ĐỂ BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC HẤP DẪN HƠN

ĐỂ BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC HẤP DẪN HƠN

                                  NGƯT.TS. Nguyễn Thị Lan

 

 

    Triết học là môn học khá trừu tượng vì mang tính khái quát cao nên giảng dạy triết học để cho hấp dẫn là vấn đề không phải dễ. Theo tôi, để có bài giảng triết học hấp dẫn, cuốn hút, cần phải lưu ý một số vấn đề sau.

    - Về giao tiếp ban đầu, ngôn ngữ và phong cách của giảng viên

Dù là bài giảng triết học hay môn học nào, khi bắt đầu thực hiện bài giảng, giảng viên cần có những hoạt động để  tạo không khí cởi mở, gần gũi với sinh viên, xóa đi những e ngại, bỡ ngỡ ban đầu, tạo sự chú ý và không khí học tập tích cực của . Điều này rất cần thiết vì mọi sự khởi đầu tốt đẹp sẽ tạo ra môi trường học tập thuận lợi cho sinh viên tiếp thu bài giảng.

     Triết học là môn học mang tính trừu tượng cao nên giảng viên cần chú ý sử dụng ngôn ngữ chính xác, dễ hiểu nhưng như thế không có nghĩa là giảng viên đơn giản hóa những nguyên lý, quy luật bằng ngôn ngữ dân dã. Như vậy là đã tầm thường hóa nguyên lý, quy luật, gây nên hiểu lầm hoặc hiểu sai về nội dung. Giảng viên cũng không thể dùng ngôn ngữ cao siêu, bác học quá mức làm cho sinh viên giảng viên đang nói gì. Giảng viên nói quá to, quá nhỏ, giọng đều đều hoặc nói những từ cuối của câu không rõ đều làm cho bài giảng kém hấp dẫn đối với sinh viên.

  Về phong cách, giảng viên phải thể hiện thái độ vui vẻ. Thái độ đó được thể hiện qua nụ cười, ánh mắt biểu hiện sự chân tình, cởi mở, gần gũi nhưng nghiêm túc. Điều đó tạo nên sự hòa hợp, gần gủi giữa người dạy và người học và bài giảng sẽ cuốn hút hơn đối với sinh viên. Ngoài ra, giảng viên phải chú ý đến cử chỉ, giọng nói, trang phục. . . Những điều đó tưởng chừng như rất nhỏ nhưng thực ra lại có tác động không nhỏ đối với sinh viên.

 - Bài giảng phải thể hiện được tâm huyết của người giảng, phải có hồn

Đây là yêu cầu không dễ. Để đạt được điều đó, người giảng viên phải đưa hết tâm huyết, sự say sưa, lòng yêu mến môn học mà truyền đạt lại cho sinh viên. Có như vậy mới có thể thổi hồn vào bài giảng và sinh viên sẽ cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái hấp dẫn của triết học. Nếu giảng viên thiếu lòng yêu nghề, yêu môn học, yêu sinh viên của mình, thiếu sự đồng cảm, chia sẻ với sinh viên thì rất khó giảng say sưa để thổi hồn vào bài giảng. Khi bước lên bục giảng, giảng viên phải có tâm lý thật thoải mái, phải biết quên đi những buồn rầu, lo nghĩ trăn trở của đời thường thì mới có thể say sưa với bài giảng của mình. Tuy nhiên, để truyền đạt được cái hấp dẫn của triết học đến với sinh viên thì giảng viên phải hiểu sâu, rộng vấn đề đó để mình cảm nhận cái hay của nó trước. Có những giờ giảng không có vấn đề gì sai sót nhưng người nghe vẫn cảm thấy có điều gì đó chưa cuốn hút. Đó chính là bài giảng đã thiếu cái “hồn” của nó.

  - Tạo được tình huống có vấn đề

   Tình huống có vấn đề tạo ra không khí học tập sôi nổi. Cái khó là ở việc giảng viên phải tìm ra tình huống có vấn đề đối với mỗi nội dung bài giảng, từ đó động viên sinh viên giải quyết dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Giảng viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách đi vào từng ngóc ngách của vấn đề hoặc tạo ra mâu thuẫn của vấn đề.

   Ví dụ 1: Giảng phần khái niệm vận động của vật chất có thể nêu vấn đề: Tại sao Lênin nói “ vận động nó vừa ở chỗ này, mà lại không thể ở chỗ này”

  Ví dụ 2:  Giảng khái niệm mâu thuẫn, cần nêu vấn đề mâu thuẫn trong đời thường và mâu thuẫn ở triết học khác nhau như thế nào? Tại sao mâu thuẫn trong đời thường lại có nghĩa xấu, mâu thuẫn trong triết học lại có nghĩa tốt?

Ví dụ 3: Giảng về ý thức, nêu vấn đề: đi trên tàu vũ trụ, nhìn xuống trái đất thấy trái đất như thế nào ?

   Từ đó, giảng viên hướng sinh viên giải quyết  vấn đề để hiểu sâu hơn về bài giảng

   - Biết đặt câu hỏi chuyển tiếp giữa các nội dung

   Khi chuyển tiếp từ nội dung này sang nội dung khác, từ bài giảng này sang bài giảng khác phải tìm được những câu hỏi để chuyển tiếp. Những câu hỏi này phải đáp ứng được các yêu cầu:

  + Bảo đảm được tính lôgic, làm cho sinh viên thấy được tính tất yếu phải có nội dung tiếp theo

  + Gây được tính tò mò muốn tìm hiểu cho sinh viên

  Ví dụ: Giảng nguồn gốc, bản chất ý thức, sau khi làm rõ: ý thức là sản phẩm của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, có thể nêu câu hỏi: “ Có giả thiết cho rằng ngoài trái đất có hành tinh khác cũng có sự sống, có con người. Vậy ai có thể tả hình dáng người ngoài hành tinh như thế nào?” để chuyển sang vấn đề: ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người. Hoặc nêu vấn đề: Năm 1992 ở Ấn độ có hai đứa trẻ lạc vào đàn sói, lúc trở về đời thường không biết nói và cũng không có nhận thức gì hết. Theo thống kê của một tài liệu, trên thế giới có 30 trường hợp các loại thú dữ bắt trẻ em, khi trở về đời thường chúng đều ngớ ngẩn, không biết nói. Tại sao như vậy? Để từ đó chuyển sang nội dung Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ.

   - Phải giải thích những từ Hán-Việt trong bài giảng

Trong triết học sử dụng rất nhiều từ Hán-Việt. Nếu giảng viên không giải thích thì sinh viên rất khó hiểu. Vì thế, giảng viên phải có vốn hiểu biết về từ Hán – Việt để giải thích cho sinh viên.

  Vì dụ: Tất yếu, tất nhiên, ngẫu nhiên

  Tất: nhất định;  nhiên : là như thế; ngẫu: là tình cớ. Từ đó, có thể giải thích : Tất nhiên: Nhất định là như thế; Tất yếu: nhất định phải như thế: Ngẫu nhiên: tình cờ là như thế.

     - Biết sử dụng văn học, nghệ thuật phục vụ cho bài giảng

     Điều này đối với giảng dạy triết học là rất cần thiết vì nó làm cho bài giảng đỡ khô khan và trở nên hấp dẫn, dễ nhớ hơn, tạo nên không khí thoải mái trong giờ học. Những câu ca dao, tục ngữ, những câu chuyện cười, câu chuyện lịch sử phù hợp với nội dung bài giảng có thể làm ví dụ minh họa. Ví dụ, giảng về độ của sự vật có thể lấy dẫn chứng về câu châm ngôn  của Đức “ quá nhiều thì không tốt: hoặc những câu tục ngữ, ca dao của Việt Nam như : “quá mù ra mưa”; “ giận quá mất khôn”; “ hiền quá hóa đần”; “ năng nhặt chặt bị”; “ có công mài sắt có ngày nên kim”; “ Đi một ngày đàng học một tràng khôn”; “ Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Giảng về  sự tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể lấy dẫn chứng về bài thơ thần của Lý Thường Kiệt  đã góp phần củng cố tinh thần của quân sỹ và làm cho quân Tống khiệp sợ, bạc nhược như thế nào, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến.v.v.

     Tóm lại, có thể nói giảng dạy môn học nào cũng có cái khó và cái dễ của nó. Vấn đề không phải là giảng môn nào mà là giảng như thế nào. Nếu có kiến thức sâu rộng và biết cách giảng thì môn học khó cũng thành dễ, trừu tượng cũng thành cụ thể, khô khan cũng trở thành hấp dẫn ./.

 


Bài viết khác