Home/NGHIÊN CỨU KHOA HỌC/BÀI VIẾT NCKH - TRAO ĐỔI

Trao đổi kinh nghiệm: "Một số lưu ý khi chia di sản thừa kế theo di chúc"

MỘT SỐ LƯU Ý KHI CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC

Ths. Dương Thị Hải Yến

Tổ Khoaọc xã hội, Khoa cơ sở

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

        Thừa kế là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thừa kế. Trong lịch sử lập pháp, ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế. Sau đó, trên tinh thần của Hiến pháp 1992 cũng như kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh thừa kế, Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành, tiếp đến là Bộ luật dân sự 2005 và hiện nay là Bộ luật dân sự 2015. Qua quá trình thi hành Bộ luật dân sự năm 2015, thực tiễn xét xử cho thấy những quy định pháp luật về thừa kế đã đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định đó đặc biệt trong việc chia di sản thừa kế theo di chúc vẫn còn một số  vướng mắc gây lúng túng ngay cả trong quá trình giải quyết tranh chấp về thừa kế của Tòa án. Nguyên nhân là do còn xuất hiện các quan điểm trái chiều khi áp dụng điều luật, thiếu sự vận dụng liên kết giữa các điều luật với nhau cũng như chưa có các văn bản dưới Luật chuyên biệt hướng dẫn chi tiết áp dụng một số điều của chế định thừa kế. Hậu quả của những tồn tại này chính là việc xác định sai phần di sản được hưởng của người thừa kế do đó không bảo vệ được quyền lợi của cả người thừa kế theo ý chí của người để lại di sản và cả người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Vì vậy, phải hiểu đúng quy định từ đó mới áp dụng để giải quyết là vấn đề cần thiết và đặc biệt lưu ý khi chia di sản thừa kế theo di chúc.

2. MỘT SỐ LƯU Ý KHI CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC

2.1. Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc

        Trên thực tế có rất nhiều trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc thì vấn đề chia di sản sẽ rất dễ gặp sự nhầm lẫn từ đó xác định sai phần di sản được hưởng.

Ví dụ 1: Ông Thanh và bà Hà là vợ chồng hợp pháp có được hai người con trai Hùng và Huy. Anh Hùng lấy chị Hạnh và sinh được con là Thông. Năm 2003, anh Hùng bị tai nạn chết. Trước đó, Ông Thanh có di chúc hợp pháp trong đó di sản 900 triệu đồng được chia đều cho bà Hà, anh Hùng và anh Huy mỗi người 300 triệu đồng. Năm 2006, ông Thanh chết và gia đình xảy ra tranh chấp trong việc xác định di sản. Anh Huy cho rằng, anh Hùng đã chết nên phần di sản của anh Hùng được chia đều cho bà Hà và anh Huy vì đây là hàng thừa kế thứ nhất của ông Thanh. Chị Hạnh cho rằng phần di sản của anh Hùng thì con trai anh Hùng được hưởng theo thừa kế thế vị quy định tại Điều 652 - BLDS 2015: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống » 

        Quan điểm của cả anh Huy và chị Hà đều không đúng với quy định của pháp luật về thừa kế. Áp dụng thừa kế thế vị đối với phần di sản của anh Hùng như quan điểm của chị Hà là sai bởi thừa kế thế vị chỉ được áp dụng trong trường hợp nếu phần di sản của anh Hùng được chia từ việc thừa kế theo pháp luật chứ không phải là phần di sản được định đoạt trong di chúc. Phần di sản của anh Hùng 300 triệu đồng tương ứng với phần di chúc không có hiệu lực nên sẽ được chia theo pháp luật tức là chia theo hàng thừa kế của người để lại di chúc. Bởi vì đây là phần di sản có liên quan đến người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Thanh gồm : Bà Hà, Hùng và Huy. Mỗi người được hưởng 100 triệu đồng chứ không phải chia đều cho bà Hà và anh Huy như quan điểm của anh Huy. Tuy nhiên, anh Hùng chết trước ông Thanh nên phần của anh Hùng sẽ chuyển sang cho cháu Thông theo thừa kế thế vị. Lúc này mới được áp dụng thừa kế thế vị vì phần di sản của anh Hùng được hưởng từ chia thừa kế theo pháp luật.

        Như vậy : Bà Hà được hưởng : 300 triệu đồng  + 100 triệu đồng = 400 triệu đồng

                         Anh Huy được hưởng : 300 triệu đồng + 100 triệu đồng = 400 triệu đồng

                         Cháu Thông được hưởng : 100 triệu đồng

                         Chị Hà không được hưởng.

         Khi chia di sản thừa kế theo di chúc trong trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc phải hết sức cẩn trọng. Trước hết phải xác định rõ đâu là phần di sản chia theo di chúc, phần di sản nào chia theo pháp luật. Phần di sản của người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc được chia theo pháp luật và chia theo hàng thừa kế của người để lại di chúc chứ không phải chia theo hàng thừa kế của người thừa kế theo di chúc đã chết. Cũng như chỉ áp dụng thừa kế thế vị khi phần di sản đó đã được chia theo pháp luật chứ không phải được định đoạt theo di chúc.

2.2. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

        Theo cách hiểu thông thường, ý chí của người để lại di chúc luôn được tôn trọng và tuân thủ một cách tuyệt đối. Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích của một số người trong diện những người thừa kế theo pháp luật, phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, pháp luật đã hạn chế quyền lập di chúc được thể hiện ở Điều 641 - BLDS 2015. Tức là không phải trong mọi trường hợp thì việc chia di sản thừa kế phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của người để lại di sản. Mục đích của quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản trước những quyết định bất lợi đối với họ. Vì thế quy định này được đánh giá mang tính nhân đạo sâu sắc.

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

       a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

       b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

        Mấu chốt để chia di sản thừa kế trong trường hợp này là phải xác định được hai phần ba của một suất người thừa kế theo pháp luật. Vậy làm thế nào để xác định hai phần ba của một suất? tính hai phần ba một suất dựa trên cơ sở nào? Đương nhiên, muốn tính được hai phần ba một suất thì trước hết phải tính được một suất là bao nhiêu? Nhưng vấn đề đó hiện nay vẫn còn có các quan điểm khác nhau dẫn đến việc xác định di sản cũng chưa đồng nhất. Qua quá trình nghiên cứu cũng như tham khảo thực tiễn công tác xét xử tranh chấp về thừa kế của Tòa án đã rút ra được một số điểm cần lưu ý khi chia di sản thừa kế di chúc có xuất hiện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

Thứ nhất:  Di sản dùng làm căn cứ cho việc tính hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật bao gồm cả di sản thờ cúng và di tặng.

        Để xác định hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật ta phải giả định rng: Nếu không có di chúc thì khối di sản này sẽ được chia như thế nào? Bởi vậy, phải lấy toàn bộ di sản thừa kế (bao gồm cả phần di tặng và phần di sản dùng vào việc thờ cúng) chia cho tất cả những người thừa kế theo pháp luật để xác định hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Có như vậy mới bảo đảm được quyền lợi của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Thứ hai: Phần di sản chia thừa kế, di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng đều bị cắt giảm để đảm bảo quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

        Di  sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không phải là một khoản nợ của người để lại di sản vì nếu đó là khoản nợ thì phải được thanh toán theo thứ tự ưu tiên. Do đó, phần di sản chia thừa kế sẽ không phải đem ra thanh toán cho phần di sản này trước tiên. Để đảm bảo quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, trong trường hợp người lập di chúc không cho hoặc cho hưởng ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật thì cả di sản chia thừa kế, di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ bị cắt giảm đồng thời và theo tỷ lệ được xác định căn cứ vào sự định đoạt trong di chúc.

Thứ ba: Cách xác định một suất của người thừa kế theo pháp luật.

         Để xác định hai phần ba một suất của người thừa kế theo pháp luật thì trước hết phải xác định được một suất của người thừa kế theo pháp luật. Từ đó mới có  mốc xác định đúng những ai thuộc trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà chưa được hưởng hoặc hưởng chưa đủ.

Ví dụ 2: Ông A có vợ là bà B và năm người con là C, D, E, G và H. Trong đó: C, D, G và H đã đủ tuổi thành niên và đều có khả năng lao động, E chưa đủ tuổi thành niên. Trước khi chết, ông A có để lại di chúc với di sản tiền mặt là 3,6 tỷ đồng. Theo di chúc, C được hưởng 50% di sản, D được hưởng 20% di sản, E được hưởng 30% di sản. Ông A không chia di sản cho bà B. Hãy chia di sản của ông A trong trường hợp trên? Biết rằng, B, C, D, E, G và H vẫn còn sống tại thời điểm mở thừa kế, không rơi vào trường hợp không được quyền hưởng thừa kế và không từ chối nhận di sản.

        Theo di chúc thì E được hưởng: 3,6 tỷ đồng x 30% = 1,08 tỷ đồng

        Những người thừa kế theo pháp luật của ông A là: bà B, C, D, E, G và H nên một suất thừa kế theo pháp luật là: 3,6 tỷ đồng : 6 = 0,6 tỷ đồng

        Hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật là: 0, 6 tỷ x 2/3 = 0,4 tỷ đồng

        Ta thấy, theo di chúc anh E đã được hưởng di sản lớn hơn hai phần ba một suất theo pháp luật. Như vậy chỉ còn bà B là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc theo quy định tại Điều 644 - BLDS 2015 nên bà B được hưởng 0,4 tỷ đồng.

        Phần di sản còn lại sẽ chia theo tỷ lệ được hưởng từ di chúc cho C, D và E

        Phần di sản còn lai: 3,6 tỷ đồng - 0,4 tỷ đồng = 3,2 tỷ đồng

        C được hưởng: 3,2 tỷ đồng x 50 % = 1,6 tỷ đồng;

        D được hưởng: 3,2 tỷ đồng x 20 % = 0,64 tỷ đồng

        E đựợc hưởng: 3,2 tỷ đồng x 30% = 0,96 tỷ đồng

        G và H không được hưởng vì vừa không được định đoạt trong di chúc vừa không thuộc đối tượng người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.

       Trong ví dụ trên việc xác định một suất theo pháp luật rất đơn giản và thống nhất bởi dễ dàng xác định nhân suất của thừa kế theo pháp luật từ đó xác định số lượng nhân suất để chia theo pháp luật. Tuy nhiên, việc xác định một suất thừa kế theo pháp luật lại không dễ dàng cần phải lưu ý, cũng như có nhiều quan điểm trong một số trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: G hoặc H rơi vào trường hợp không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản.

        Đây là những người đáng lẽ được hưởng di sản nhưng do có những hành vi trái đạo đức, trái pháp luật nên họ bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Do đó, họ không còn là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Vì vậy không được tính họ vào nhân suất để xác định một suất theo luật.

        G hoặc H không phải là nhân suất để chia thừa kế theo pháp luật. Một suất của người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp này là: 3,6 tỷ đồng : 5 = 0.72 tỷ đồng.

Trường hợp 2: G hoặc H bị người để lại di chúc truất quyền hưởng di sản

        Trong trường hợp này, G và H mặc dù bị truất quyền hưởng di sản theo di chúc nhưng G hoặc H vẫn là nhân suất để chia thừa kế theo pháp luật trừ khi G hoặc H rơi vào trường hợp 1 ở trên. Một suất của người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp này là: 3,6 tỷ đồng : 6 = 0.6 tỷ đồng.

Trường hợp 3: G hoặc H chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản

         Nếu G hoặc H có con hoặc cháu được được thừa kế thế vị theo Điều 652- BLDS 2015 thì G hoặc H vẫn được coi là nhân suất khi xác định suất của một người thừa kế theo pháp luật. Một suất thừa kế theo pháp luật là: 3,6 tỷ đồng : 6 = 0,6 tỷ đồng.

         Nếu G hoặc H chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản nhưng không có con hoặc cháu được thừa kế thế vị, trong trường hợp này, nếu di sản được chia theo pháp luật, pháp luật cũng không chia di sản cho những người này. Bởi vậy họ sẽ không được coi là nhân suất khi xác định suất của một người thừa kế theo pháp luật. Một suất thừa kế theo pháp luật là: 3,6 tỷ đồng : 5 = 0,72 tỷ đồng.

        Qua các ví dụ trên có thể thấy rằng việc xác định một suất thừa kế theo pháp luật không hề đơn giản. Đây là cầu nối để xác định đúng phần di sản mà những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được hưởng. Để xác định chính xác cần nắm vững quy định về hàng thừa kế, nguyên tắc, trình tự chia thừa thế theo pháp luật. Xác định đúng nhân suất của thừa kế theo pháp luật từ đó xác định số lượng nhân suất để chia. Đặc biệt chú ý khi người trong hàng thừa kế rơi vào trường hợp không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản.

3. KẾT LUẬN

        Chia di sản thừa kế theo di chúc là một vấn đề pháp lý phức tạp đòi hỏi phải nắm được các quy định chung và vận dụng các quy định đó một cách hợp lý, nhuần nhuyễn. Khi đó thì quyền lợi của người thừa kế theo di chúc cũng như người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mới được đảm bảo. Trong công tác xét xử của Tòa án đối với những tranh chấp về thừa kế cũng phải lưu ý những vấn đề đó đồng thời phải tổng kết thực tiễn xét xử mới có thể hạn chế án thừa kế tồn đọng cũng như việc kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

         1. Bộ luật dân sự 2015

         2. Lê Thu Hà, (2011), Vấn đề áp dụng và hoàn thiện pháp luật qua thực tiễn xét xử vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, NXB chính trị quốc gia.

         3. Phạm Thị Thảo, (2012), Tìm hiểu các quy định pháp luật về di chúc, thừa kế và tài sản vợ chồng, NXB Tư pháp.

         4. Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, (2013), Tuyển chọn thông báo rút kinh nghiệm và kiến nghị nghiệp vụ về kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự - hành chính.

         5. Trường Đại học Luật Hà Nội, (2008), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 1, NXB Công an nhân dân.

                                                                                             Tin bài: Dương Thị Hải Yến

 

 

           

 

 

 

 

 

 

Tags: