Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An năm 2018

Năm 2018, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có phát triển hơn năm 2017 nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội. Ở trong tỉnh tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn gặp nhiều khó khăn như sản phẩm mới ngành công nghiệp không có nhiều, một số sản phẩm chủ lực đã khai thác tối đa công suất; thời tiết diễn biến bất thường, rét đậm, rét hại kéo dài, mưa lũ; dịch bệnh xảy ra trên cây trồng và vật nuôi;… đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của các tầng lớp dân cư. Trước tình hình đó ngay từ đầu năm dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 105/QĐ-UBND về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An năm 2018; Quyết định số 470/QĐ-UBND về thành lập các tổ công tác để chỉ đạo, thúc đẩy thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Do đó kinh tế - xã hội năm 2018 tỉnh Nghệ An đã đạt 27/27 chỉ tiêu đề ra, cụ thể như sau:

I.Phát triển kinh tế

1. Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ phát triển tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2018

 

 

Tốc độ phát triển tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2018 so với cùng kỳ năm trước (%)

6 tháng đầu năm 2018

6 tháng cuối năm 2018

Cả năm 2018

Tổng số

107,36

110,05

108,77

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

104,99

105,09

105,04

- Công nghiệp – xây dựng

110,06

119,18

115,04

    Trong đó: Công nghiệp

113,44

122,95

118,78

- Dịch vụ

107,09

106,85

106,96

- Thuế sản phẩm – trợ cấp SP

106,15

103,83

104,96

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2018 theo giá so sánh 2010 ước đạt 80.971 tỷ đồng, tăng 8,77% so với năm 2017, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 16.802 tỷ đồng, tăng 5,04%; khu vực công nghiệp – xây dựng 24.615 tỷ đồng, tăng 15,04%; khu vực dịch vụ 35.649 tỷ đồng, tăng 6,96% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 3.906 tỷ đồng tăng 4,96%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm nay cao hơn tốc độ tăng của năm 2017 (8,25%). Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và khu vực công nghiệp, xây dựng tăng cao hơn năm 2017; tuy nhiên khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm có mức tăng thấp hơn năm 2017.

 Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2018 tăng 8,77% đạt kế hoạch đề ra, trong đó 6 tháng đầu năm tăng 7,36%, 6 tháng cuối năm tăng 10,05%. Nguyên nhân do 6 tháng cuối năm ngành công nghiệp, xây dựng tăng đột biến, 6 tháng đầu năm ngành công nghiệp, xây dựng chỉ tăng 13,44% nhưng 6 tháng cuối năm tăng 22,95%.

 Trong 8,77% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 1,08 điểm %; khu vực công nghiệp – xây dựng đóng góp 4,32 điểm % (trong đó ngành công nghiệp đóng góp 3,26 điểm %); khu vực dịch vụ đóng góp 3,12 điểm % và thuế sản phẩm đóng góp 0,25 điểm %.

Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá với mức tăng 5,04% cao hơn mức tăng của năm 2017 (4,33%) trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 78% của toàn khu vực tăng 3,51% do sản phẩm cây lâu năm đều tăng hơn cùng kỳ năm trước như cam tăng 16,37%, bưởi tăng 10,2%, chè búp tăng 6,82%… và ngành chăn nuôi phát triển mạnh, sản lượng xuất chuồng tăng như trâu xuất chuồng tăng 5,42%, bò xuất chuồng tăng 7,51%, gà xuất chuồng tăng 8,61%, do đó giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp tăng khá. Ngành lâm nghiệp và Thủy sản cũng có mức tăng khá cao, trong đó ngành lâm nghiệp tăng 10,98% do trong kỳ sản lượng lâm sản khai thác tăng cao (sản lượng gỗ tăng 19,44%) so với năm trước và ngành thủy sản tăng 11,39% do sản lượng khai thác tăng mạnh (sản lượng thủy sản tăng 10,73%). Cơ cấu nội ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng lâm nghiệp và thủy sản; nông nghiệp giảm từ 79,02% năm 2017 xuống còn 78,16% năm 2018; lâm nghiệp tăng từ 9,32% lên 9,56%; thủy sản tăng từ 11,66% lên 12,28%.

Khu vực công nghiệp – xây dựng giá trị tăng thêm tăng 15,04% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng của năm 2017 (13,5%), trong đó ngành công nghiệp tăng 18,78%  cao hơn năm 2017 (15,89%) do trong kỳ có bổ sung thêm một số nhà máy điện mới như Bản Ang, Chi Khê vào những tháng cuối năm cùng với phát huy tốt công suất của nhà máy Tôn Hoa sen Đông Hồi, Xi măng Đô Lương, các nhà máy Thủy điện, sữa TH, đường kính nên giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp đạt khá. Cùng với ngành xây dựng phát triển khá nên giá trị tăng thêm của ngành này đã tăng 9,33%.

 Khu vực dịch vụ vẫn phát triển bình thường so với cùng kỳ năm trước do tổng mức bán lẻ hàng hóa, luân chuyển hành khách, dịch vụ lưu trú và ăn uống đều tăng khá, ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, nợ xấu giảm, những người làm công ăn lương được tăng lương cơ sở từ 1/7/2018. Do đó mức tăng của khu vực này ước đạt 6,96% (năm 2017 tăng 7,14%). Trong đó giá trị tăng thêm của ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô tăng 10,17%; vận tải kho bãi tăng 8,00%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,76%; thông tin và truyền thông tăng 7,98%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 7,84%; giáo dục đào tạo tăng 7,24%; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội tăng 7,02%...

 Thuế sản phẩm tăng thấp với mức tăng 4,96% do nhiều lĩnh vực thuế đạt thấp như thu từ doanh nghiệp trung ương quản lý giảm 9,38%, thu từ doanh nghiệp địa phương quản lý giảm 2,93%, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 26,86% và thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh chỉ tăng 3,78%.

 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 22,58% năm 2017 xuống còn 22,01% năm 2018; ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 27,62% lên 29,21%; ngành dịch vụ giảm từ 44,80% xuống 43,95%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm từ 5,00% xuống 4,83%. GRDP bình quân đầu người năm 2017 là 32,93 triệu đồng đã tăng lên 36,64 triệu đồng năm 2018.

 2. Tài chính, ngân hàng

 Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2018 ước đạt 13.141,6 tỷ đồng, bằng 103,55% dự toán cả năm và tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa ước đạt 11.441,6 tỷ đồng, bằng 100,09% dự toán và tăng 2,09%. Thu ngân sách năm nay tăng thấp, nhất là nhiều khoản thu thuế sản phẩm (như thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt) so với dự toán đạt thấp và giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ như: Thu từ doanh nghiệp Trung ương quản lý chỉ bằng 76,4% dự toán và giảm 9,38%; Thu từ doanh nghiệp địa phương quản lý bằng 85,71% dự toán và giảm 2,93%; Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bằng 63,01% dự toán và giảm 26,86%; Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh bằng 88,6% dự toán và chỉ tăng 3,78%; Thu phí và lệ phí bằng 107,62% dự toán và giảm 11,3%; Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước bằng 114,58% dự toán và giảm 12,85%. Tuy nhiên có một số khoản thu so với cùng kỳ tăng khá như: Lệ phí trước bạ tăng 26,01%; Thuế thu nhập cá nhân tăng 16,63%; Thuế bảo vệ môi trường tăng 23,7%; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.700 tỷ đồng, tăng 10,61%.

 Tổng chi ngân sách năm 2018 ước đạt 24.764,6 tỷ đồng, bằng 104,14% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 6.265,3 tỷ đồng, bằng 106,8% dự toán; chi thường xuyên 18.136,9 tỷ đồng, bằng 103,51% dự toán. Chi thường xuyên chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, đảm bảo hoạt động có tính chất thường xuyên của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và thực hiện chính sách an sinh xã hội cũng như phát triển kinh tế. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 1.895,1 tỷ đồng, bằng 115,44% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 7.886,8 tỷ đồng, bằng 103,27% dự toán; chi sự nghiệp y tế 1.984,8 tỷ đồng, bằng 101,82%; chi đảm bảo xã hội 1.196 tỷ đồng, bằng 100,6% dự toán và chi quản lý hành chính 3.339,5 tỷ đồng, bằng 104,51% dự toán.

 Hoạt động tài chính, ngân hàng năm 2018 ổn định, có tốc độ tăng trưởng khá. Các tổ chức tín dụng thường xuyên bám sát các chương trình, dự án phát triển kinh tế của tỉnh để đầu tư vốn tín dụng. Ước tính đến 31/12/2018 nguồn vốn huy động trên địa bàn (không tính ngân hàng phát triển) ước đạt 123.552 tỷ đồng, tăng 15,0% (+16.115 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm trước; tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng ước đạt 192.327 tỷ đồng, tăng 12,86% (+21.920 tỷ đồng). Nợ xấu tại các tổ chức tín dụng ước 1.612 tỷ đồng, chiếm 0,84% tổng dư nợ.

 3. Chỉ số giá

 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2018 giảm 0,38% so với tháng trước; tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước.

 So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 4 nhóm hàng hóa dịch vụ chỉ số giá giảm, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 4,00% do trong kỳ có 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng dầu (xăng A95 giảm 10,97%, xăng E5 giảm 11,24%, dầu diezen giảm 10,10%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,81% do giá gas giảm 33 nghìn đồng/bình 12 kg, giá dầu hỏa giảm 8,72%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,28% (lương thực tăng 0,27%, thực phẩm giảm 0,49%); nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,09%. Có 6 nhóm tăng giá và tăng mạnh nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,97% do áp dụng Thông tư 39/2018/TT-BYT, trong đó dịch vụ khám sức khỏe tăng 7,88%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,36% do nhu cầu mua sắm khi thời tiết chuyển mùa tăng. Duy nhất có 1 nhóm đứng giá là nhóm giáo dục.

 Như vậy bình quân năm 2018 chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 4,67% so với cùng kỳ, tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế với mức tăng 20,71% do các cơ sở y tế thực hiện Thông tư 37/2015/TTLT-BYT-BTC và thông tư 39/2018/TT-BYT; nhóm giao thông tăng 6,80%; nhóm giáo dục tăng 6,33%; còn lại các nhóm khác có mức tăng thấp hơn và duy nhất nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,15%.

 Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,36%, so với tháng 12/2017 tăng 0,07%; chỉ số đô la Mỹ giảm 0,18% so với tháng trước, so với tháng 12/2017 tăng 2,76%.

 4. Đầu tư, xây dựng

Năm 2018 lĩnh vực đầu tư xây dựng tiếp tục phát triển nhưng chưa ổn định, 6 tháng đầu năm không có nhiều công trình lớn khởi công, chủ yếu thực hiện trên các công trình chuyển tiếp, 6 tháng cuối năm có nhiều khởi sắc. Vốn đầu tư phát triển tháng 12/2018 thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 545 tỷ đồng, tăng 9,79% so với cùng kỳ năm trước; quý 4/2018 ước đạt 1.622,9 tỷ đồng, tăng 13,06%; cộng dồn cả năm ước đạt 5.856 tỷ đồng, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.424 tỷ đồng, tăng 15,98%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 2.013,4 tỷ đồng, tăng 8,55% và cấp xã 1.418,7 tỷ đồng, tăng 16,6.

Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý IV/2018 đạt 18.120,4 tỷ đồng, tăng 15,83% (+2.476,4 tỷ đồng) so với cùng quý năm trước; trong đó vốn nhà nước ước đạt 4.409,4 tỷ đồng, tăng 17,72% (Trung ương quản lý tăng 26,95%, địa phương quản lý tăng 12,86%); vốn ngoài nhà nước 13.310,7 tỷ đồng, tăng 15,29% (+1.765,3 tỷ đồng); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 400,3 tỷ đồng, tăng 13,61% (+48 tỷ đồng). Phân theo khoản mục đầu tư thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản quý IV ước đạt 16.396,5 tỷ đồng, tăng 27,44% (+3.530,4 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm trước; vốn mua sắm tài sản cố định 727 tỷ đồng; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 597 tỷ đồng.

Cộng dồn cả năm 2018 tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 62.205,2 tỷ đồng, tăng 14,21% (+7.739,6 tỷ đồng) so với năm 2017; trong đó vốn nhà nước ước đạt 14.423,1 tỷ đồng, tăng 23,83% (Trung ương quản lý tăng 35,55%, địa phương quản lý tăng 17,89%); vốn ngoài nhà nước 46.664,9 tỷ đồng, tăng 11,45% (+4.794,2 tỷ đồng); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.117,1 tỷ đồng, tăng 18,34% (+173,1 tỷ đồng). Phân theo khoản mục đầu tư thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2018 ước đạt 57.188,3 tỷ đồng, tăng 24,4% (+11.217 tỷ đồng) so với năm trước; vốn mua sắm tài sản cố định 1.787,4 tỷ đồng; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 1.768,9 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ chủ yếu tập trung vào các công trình chuyển tiếp như Bệnh viện đa khoa Nghệ An giai đoạn 2; Hồ chứa nước Bản Mồng; Tiểu dự án phát triển đô thị Vinh; Hợp phần 4, dự án quản lý thiên tai WB5; Nâng cấp, cải tạo hạ tầng Khu nuôi trồng thủy sản huyện Quỳnh Lưu; Khu A KCN Nam Cấm; Khu neo đậu tránh bão tàu cá Lạch Quèn; Nâng cấp tuyến đê sông Thái; Xây dựng đường vành đai Bắc; Tuyến đường ngang N8; Xây dựng kè chống sạt lở sông nam Cấm; Đường Diễn Hải đi Diễn Thịnh; Nâng cấp Trường cao đẳng nghề Việt Nam Hàn Quốc; Kè sạt lở từ Quảng Trường Bình Minh đến Cửa Hội; Hệ thống cấp nước Thị xã Cửa Lò; Đường giao thông Nhân Thành đi Chợ Chùa, Yên Thành; Đường 72m Vinh – Cửa Lò; Khôi phục vùng ngập lũ tỉnh Nghệ An; Nhà máy gỗ MDF Anh Sơn; Khu công nghiệp WHA Hemaraj; Nhà máy xi măng Tân Thắng; Công ty May Minh Anh; Nhà máy bia Massan; Nhà máy Nam sung Vina; Khách sạn Summer 2; Nhà máy Thủy điện Khe Thơi; các khu chung cư như Handico 30, Trường Thi, Golden city, Huy Hùng, Trường Thịnh; Trung Đức; Green view; Plaza; Cửa Tiền;…

Trong năm UBND tỉnh Nghệ An phối hợp với Công ty CP WHA Hemaraj đã khởi công Dự án Khu công nghiệp WHA Hemaraj Nghệ An với tổng số vốn đầu tư 22.000 tỷ đồng trên diện tích 3200 ha thuộc Khu kinh tế Đông Nam; giai đoạn 1, Dự án Khu công nghiệp WHA Hemaraj Nghệ An có tổng vốn đầu tư 92,2 triệu USD trên diện tích 498 ha. Ngày 30/4/2018 tại KCN Tri Lễ, huyện Anh Sơn, Công ty TNHH Thanh Thành Đạt khởi công dự án nhà máy ván sợi MDF Nghệ An với tổng vốn đầu tư giai đoạn 1 là 2.180 tỷ đồng. Dự kiến nhà máy sẽ hoàn thành và đi vào sản xuất sau 30 tháng với công suất thiết kế 180 nghìn m3 sản phẩm gỗ MDF /năm.

Công tác xúc tiến đầu tư: trong năm 2018 (tính đến ngày 15/12/2018) đã cấp mới cho 109 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 9.002 tỷ đồng, điều chỉnh 7 lượt dự án với số vốn điều chỉnh tăng thêm 704 tỷ đồng. Một số dự án lớn được cấp mới như Dự án nhà máy bia, nước giải khát Massan tại Khu B – KCN Nam Cấm với tổng số vốn 1.661 tỷ đồng; Khu liên hợp sản xuất vật liệu xây dựng Trung Đô 1.025 tỷ đồng; Nhà máy bánh kẹo Hải Châu II 360 tỷ đồng; Nhà máy sản xuất viên nén sinh khối Biomass Fuel Việt Nam tại KCN VSIP 20 triệu USD; Nhà máy Em-Tech Vinh tại KCN VSIP 11,82 triệu USD.

 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

 Trong năm 2018 (tính đến 14/12) đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 1.852 doanh nghiệp, tăng 7,24% so với cùng kỳ, vốn điều lệ đăng ký bình quân khoảng 5,56 tỷ đồng/doanh nghiệp, đồng thời có 493 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo số liệu rà soát doanh nghiệp toàn tỉnh hiện nay có 13.251 doanh nghiệp, trong đó 10.194 doanh nghiệp, 807 văn phòng, chi nhánh đang hoạt động sản xuất kinh doanh. UBND tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tăng cường hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; tiếp tục thực hiện kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân. Hàng tháng, UBND tỉnh tổ chức giao ban, gặp gỡ các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh để lắng nghe, giải quyết các khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Chất lượng dịch vụ công ngày càng được nâng cao, góp phần hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên trong năm 2018 có 106 chi nhánh, văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tăng 21 đơn vị so với năm trước; 117 doanh nghiệp giải thể, tăng 32 doanh nghiệp.

 6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

6.1. Sản xuất nông nghiệp

6.1.1. Trồng trọt:

Năm 2018, sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện không được thuận lợi, nhất là ảnh hưởng của bão, gây ra nhiều đợt mưa to, làm ngập lụt ở nhiều địa phương nhưng có sự chỉ đạo điều hành tích cực của các cấp, các ngành nên sản xuất nông nghiệp vẫn đạt kết quả khá, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch đề ra. Vụ đông do ảnh hưởng của cơn bão số 10, gây ra mưa lớn trên diện rộng nên không đạt kế hoạch đề ra; Vụ xuân có thời tiết thuận lợi nên các cây trồng chính đều đạt kế hoạch; Vụ hè thu đầu vụ nắng nóng kéo dài, một số vùng trung du thiếu nước, nên cây lúa giảm so với cùng kỳ và không đạt kế hoạch; vụ mùa đầu vụ nắng nóng kéo dài, giữa vụ do ảnh hưởng của cơn bão số 2, số 3, số 4 gây ngập lụt cục bộ, tuy nhiên bà con tích cực gieo lại những phần đã mất nên diện tích gieo trồng tăng hơn cùng vụ năm trước, cụ thể như sau:

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2018 ước đạt 364.292 ha, bằng 98,64% so với năm 2017, trong đó cây lương thực gieo trồng ước đạt 238.211 ha, bằng 97,36% (-6.448 ha) bao gồm:

Cây lúa diện tích gieo cấy ước đạt 186.334 ha, giảm 1,23% (-2.320 ha) so với năm 2017 (lúa đông xuân 92.302 ha, lúa hè thu 59.001 ha, lúa mùa 35.031 ha); Vụ xuân năng suất đạt 67,48 tạ/ha, tăng 1,63 tạ/ha so với cùng vụ năm ngoái; Vụ hè thu năng suất đạt 44,72 tạ/ha, giảm 3,95 tạ/ha; Vụ mùa năng suất sơ bộ đạt 34,98 tạ/ha. Sản lượng thóc năm 2018 ước đạt 1.009.268 tấn, giảm 0,57% (-5.828 tấn) so với năm trước.

Cây ngô diện tích gieo trồng ước đạt 51.832 ha, bằng 92,62% (-4.130 ha) so với năm 2017 (chủ yếu giảm ở vụ đông xuân); năng suất ngô ước đạt 42,97 tạ/ha, giảm 0,25 tạ/ha; sản lượng ước đạt 222.731 tấn, giảm 7,92% (-19.148 tấn) so với năm ngoái.

Sản lượng thóc và sản lượng ngô giảm nên sản lượng lương thực có hạt năm 2018 ước đạt 1.231.999 tấn, giảm 2,00% (-25.083 tấn) so với năm trước.

Cây khoai lang diện tích gieo trồng ước đạt 4.086 ha, giảm 0,32% (-13 ha); năng suất ước đạt 65,15 tạ/ha; sản lượng ước đạt 26.619 tấn, tăng 1,01% (+267 tấn) so với năm 2017. Diện tích sắn cả năm ước đạt 16.364 ha, tăng 5,33% (+828 ha) so với năm trước; năng suất ước đạt 242,62 tạ/ha; sản lượng ước đạt 397.030 tấn, tăng 14,96% (+51.666 tấn).

Cây rau đậu, hoa cây cảnh diện tích gieo trồng 38.962 ha, tăng 0,37% (+144 ha) so với năm 2017, trong đó rau các loại diện tích 33.978 ha; năng suất ước đạt 142,87 tạ/ha; sản lượng ước đạt 485.455 tấn, tăng 8,84% (+39.423 tấn).

Cây lạc diện tích gieo trỉa ước đạt 14.228 ha, giảm 7,38% (-1.133 ha) so với năm trước; năng suất 25,45 tạ/ha, sản lượng ước đạt 36.210 tấn, giảm 5,50% (-2.106 tấn). Cây mía diện tích ước đạt 24.913 ha, tăng 1,38% (+340 ha) so với năm 2017; năng suất 581,14 tạ/ha; sản lượng 1.447.801 tấn, tăng 4,50% (+62.346 tấn).

Tổng diện tích cây lâu năm 2018 ước đạt 48.636 ha, tăng 6,05% (+2.775 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó cây ăn quả ước đạt 22.281 ha, tăng 9,37% (+1.908 ha), một số cây lâu năm có sản lượng đạt khá như dứa 20.125 tấn, tăng 5,50%; mít 3.934 tấn, tăng 67,98%; cam 48.119 tấn, tăng 16,37%; chanh 19.370 tấn, tăng 7,12%; bưởi 7.615 tấn, tăng 10,20%; nhãn 5.038 tấn, tăng 12,91%; vải 5.289 tấn, tăng 5,86%; chè búp 73.790 tấn, tăng 6,82%;… Còn lại các cây trồng khác phát triển bình thường.

6.1.2. Chăn nuôi:

Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/10/2018, tổng đàn trâu có 275.654 con, giảm 2,58% (-7.288 con) so với cùng kỳ năm trước, tổng đàn bò có 470.389 con, tăng 3,46% (+15.731 con), trong đó bò sữa 63.130 con, giảm 2% (-1.290 con). Sản lượng xuất chuồng tăng khá, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý 4/2018 ước đạt 2.748 tấn, tính chung cả năm ước đạt 10.891 tấn, tăng 5,43% (+561 tấn) so với năm trước; sản lượng bò xuất chuồng quý 4/2018 ước đạt 4.522 tấn, tính chung cả năm ước đạt 17.599 tấn, tăng 7,51% (+1.229 tấn); sản lượng sữa tươi quý 4/2018 ước đạt 56.450 tấn, tính chung cả năm 220.796 tấn. Nguyên nhân sản lượng xuất chuồng tăng khá do nhu cầu tiêu thụ thịt trâu, thịt bò tăng, được giá, mặt khác sức kéo của trâu bò dần được thay thế bằng máy cày, bừa nên chăn nuôi trâu, bò chủ yếu là chăn nuôi vỗ béo lấy thịt.

Cũng theo kết quả điều tra tổng đàn lợn đạt 912.475 con, tăng 2,6% (+23.143 con) so với cùng kỳ năm trước. Tổng đàn lợn tăng do sau một thời gian giá thịt lợn hơi giảm thì hiện nay giá lợn đã tăng lên và ổn định nên người dân dần dần tái đàn và số lượng xuất chuồng tăng. Sản lượng lợn xuất chuồng quý 4/2018 ước đạt 33.693 tấn, cộng dồn cả năm 2018 ước đạt 134.269 tấn, tăng 4,32%. Tổng đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) đạt 23.167 nghìn con, tăng 5,3% (+1.165 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 19.185 nghìn con chiếm 82,81% tổng đàn và tăng 6,08%. Sản lượng gà xuất chuồng quý 4/2018 ước đạt 11.502 tấn, cộng dồn cả năm 2018 ước đạt 43.251 tấn. Chăn nuôi gia cầm tăng khá do là loại dễ nuôi, chi phí thấp, bán được giá và nhu cầu tiêu dùng nhiều.

6.2. Sản xuất lâm nghiệp

Diện tích trồng rừng tập trung quý IV/2018 ước đạt 7.698 ha, giảm 1,56% so với cùng kỳ năm trước; tính chung cả năm 2018 ước đạt 22.537 ha, tăng 0,94%; trong đó trồng rừng phòng hộ ước đạt 323 ha, rừng sản xuất 22.205 ha. Trong quý 4/2018 cũng đã trồng được 1.356 nghìn cây phân tán, cả năm 8.820 nghìn cây. Diện tích rừng giao khoán bảo vệ đã giao được 951.400 ha, khoanh nuôi tái sinh 60.580 ha và rừng trồng được chăm sóc 58.130 ha. Sản xuất cây giống phục vụ công tác trồng rừng quý 4/2018 ước đạt 24.605 nghìn cây, cả năm 240.712 nghìn cây, tăng 5,61% so với năm trước.

Sản lượng khai thác lâm sản quý IV và cả năm đạt khá, quý IV/2018 gỗ các loại khai thác 259.961 m3, tăng 1,00% (+2.574 m3); củi khai thác 184.874 ste, tăng 2,83% (+5.088 ste); nứa hàng 4.914 nghìn cây, tăng 0,37% (+18 nghìn cây); măng tươi 7.892 tấn, tăng 0,69% (+54 tấn). Tính chung cả năm gỗ các loại khai thác 1.121.420 m3, tăng 19,44% (+182.522 m3) so với năm trước; củi 1.029.546 ste, giảm 0,23% (-2.373 ste); nứa hàng 31.204 nghìn cây, tăng 2,04% (+624 nghìn cây); măng tươi 40.128 tấn, tăng 1,02% (+405 tấn); các sản phẩm khác như luồng vầu, nhựa thông, lá dong, rau rừng đều tăng hơn so với năm trước.

Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, tuy nhiên trong năm 2018 đã phát hiện và xử lý 566 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 938 m3 gỗ các loại; thu nộp ngân sách 8.135 triệu đồng.

6.3. Sản xuất thủy sản

Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản (không tính nuôi trong lồng, bè, bể, bồn) năm 2018 đạt 20.951 ha, bằng 99,87% (-28 ha) so với năm trước. Trong đó diện tích nuôi trồng tôm 1.904 ha, tăng 36 ha; diện tích nuôi cá 18.834 ha, giảm 61 ha và thủy sản khác 213 ha. Số lồng bè nuôi trồng thủy sản hiện có 1.138 lồng (48.792 m3), tăng 202 lồng (+16.278 m3) so với cùng kỳ năm trước, số lồng bè tăng chủ yếu ở huyện Nghi Lộc, Hoàng Mai, Cửa Lò để nuôi trồng nước mặn và Quế Phong, Tương Dương để nuôi trồng trên lòng hồ thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố và Hủa Na. Nuôi bể bồn với thể tích 15.571 m3, tăng 10.848 m3.

Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản trong quý IV và cả năm 2018 tăng khá do thời tiết tương đối thuận lợi cho ngư dân ra khơi, thời gian bám ngư trường nhiều hơn. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý IV ước đạt 15.731 tấn, tăng 5,94% (+882 tấn) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thủy sản khai thác đạt 34.705 tấn, tăng 10,57% (+3.318 tấn). Tính chung tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản quý IV ước đạt 50.436 tấn, tăng 9,08% (+4.200 tấn). Cộng dồn cả năm 2018 tổng sản lượng thủy sản ước đạt 202.331 tấn, tăng 10,73% (+19.604 tấn) so với năm trước, trong đó sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 149.367 tấn, tăng 12,75% (+16.893 tấn) và sản lượng thủy sản nuôi trồng 52.964 tấn, tăng 5,39% (+2.711 tấn).

Sản lượng khai thác thủy sản tăng mạnh do người dân đã huy động mọi nguồn lực đóng nhiều tàu mới có công suất lớn để khai thác xa bờ thay thế những tàu cũ, công suất nhỏ. Tổng số tàu, thuyền khai thác hải sản có động cơ là 4.404 chiếc, với công suất 621.234 CV, tăng 7,04% (+40.858 CV), trong đó tàu có công suất 90 CV trở lên là 1.380 chiếc, tăng 49 chiếc, công suất 554.590 CV, tăng 8,25% (+42.273 CV) so với năm 2017.

Để đáp ứng đủ nhu cầu nuôi trồng thủy sản trong và ngoài tỉnh, công tác sản xuất, phân phối giống thủy sản cũng phát triển khá, quý IV/2018 số con giống ước sản xuất, phân phối 701 triệu con, ước cả năm 2018  sản xuất, phân phối 2.864 triệu con, tăng 10,24% (+266 triệu con).

7. Sản xuất công nghiệp

Quý 4/2018 và năm 2018 ngành công nghiệp Nghệ An có bước phát triển khá, một số nhà máy đã đi vào hoạt động từ những năm trước phát huy tốt công suất thiết kế như Tôn Hoa sen, xi măng Sông Lam, Sữa TH, Đường, Điện sản xuất. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 12/2018 ước tính tăng 14,81%, trong đó ngành khai khoáng tăng 12,54%; ngành chế biến chế tạo tăng 13,65%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,98%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 12,73%. Tính chung chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) quý 4/2018 tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 13,56%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,21%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 20,53% do cùng quý năm trước thời tiết mưa ít, lượng nước trong hồ ít ảnh hưởng đến công xuất chạy máy còn năm nay mưa nhiều, nước trên thượng nguồn đổ về nhiều, lượng nước trong hồ đầy, công suất chạy máy tăng lên cùng với 2 Nhà máy mới phát điện là Thủy điện Bản Ang và Thủy điện Chi Khê; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,14%.

Nhiều sản phẩm chủ yếu trong quý 4/2018 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như đá xây dựng 644,4 nghìn m3, tăng 16,79%; sữa tươi 44,77 triệu lít, tăng 29,46%; sữa chua 7.212 tấn, tăng 30,01%; bao bì 15,64 triệu chiếc, tăng 29,44%; sản phẩm in 1.995 triệu trang, tăng 50,89%; xi măng 1.352,5 nghìn tấn, tăng 76,27%; bột đá 138,72 nghìn tấn, tăng 20,62%; cửa bằng sắt thép 433,8 nghìn m2, tăng 52,82%; tủ gỗ 16.828 chiếc, tăng 44,93%; điện sản xuất 792,7 triệu kwh, tăng 21,3%; điện thương phẩm 775 triệu kwh, tăng 12,52%;... Tuy nhiên trong quý có nhiều sản phẩm chủ yếu giảm sút như bia đóng chai giảm 6,36%; bia đóng lon giảm 40,42%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 34,9%; thùng các tông giảm 28,68%; phân NPK giảm 63,48%; bê tông tươi giảm 53,62%;… Nguyên nhân bia chai, bia lon giảm do các nhà máy bia đang thực hiện quá trình thoái vốn nhà nước nên chưa có kế hoạch sản xuất.

Tính chung cả năm 2018 chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 16,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 2,97%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,28%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,81%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,72%. Nguyên nhân chỉ số ngành khai khoáng giảm do tài nguyên, khoáng sản ngày càng cạn kiệt, thuê đất mỏ, thuế tài nguyên tăng, khai thác gặp nhiều khó khăn; chỉ số sản xuất điện tăng do mưa nhiều, lượng nước trong hồ đầy, thời gian chạy máy tăng mạnh.

 Trong năm một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa tươi 175,6 triệu lít, tăng 24,29%; sữa chua 31,1 nghìn tấn, tăng 37,03%; đường kính 127,4 nghìn tấn, tăng 30,56%; sản phẩm in 6.713,9 triệu trang, tăng 37,22%; xi măng 4.552 nghìn tấn, tăng 79,05%; bột đá 607 nghìn tấn, tăng 44,71%; cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại 3.771,7 tấn, tăng 109,62%; tôn Hoa sen 714,2 nghìn tấn, tăng 36,71%; cửa bằng sắt thép 1.574,8 nghìn m2, tăng 30,29%; tủ gỗ 52 nghìn chiếc, tăng 34,35%; điện sản xuất 3.108,5 triệu kwh, tăng 23,61%; điện thương phẩm 3.118,8 triệu kwh, tăng 11,09%; Tuy nhiên vẫn còn nhiều sản phẩm chủ yếu giảm sâu như thức ăn gia súc giảm 17,59%; bia đóng chai giảm 14,29%; bia đóng lon giảm 14,49%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 22,2%; bao bì giảm 5,68%; phân NPK giảm 37,37%; ống nhựa tiền phong giảm 6,03%; loa giảm 32,68%… do sản xuất gặp nhiều khó khăn, sản xuất không tiêu thụ được, lượng tồn kho nhiều các nhà máy phải cắt giảm sản lượng sản xuất.

 8. Hoạt động thương mại, dịch vụ

 Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 12/2018 theo giá hiện hành ước đạt 5.180 tỷ đồng, tăng 12,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý 4/2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.350,4 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng quý năm trước đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa cả năm 2018 ước đạt 55.853,8 tỷ đồng, tăng 12,99% so với năm trước. Trong đó thành phần kinh tế tư nhân 22.119,8 tỷ đồng, tăng 13,24%; thành phần kinh tế cá thể 30.985,8 tỷ đồng, tăng 13,39%, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 413,2 tỷ đồng. Chia theo nhóm hàng bán lẻ thì nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với doanh thu trong kỳ ước đạt 16.979,8 tỷ đồng (chiếm 30,4% tổng số), tăng 15,00% so với năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 7.436,4 tỷ đồng, tăng 11,00%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng 4.226,1 tỷ đồng, tăng 13,45%; ô tô các loại 8.875,3 tỷ đồng, tăng 9,83%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) 4.163,2 tỷ đồng, tăng 11,42%; xăng dầu 4.701,4 tỷ đồng, tăng 15,02%...

 Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 12/2018 ước đạt 794,3 tỷ đồng, tăng 13,77% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2018 ước đạt 2.331,8 tỷ đồng, tăng 13,88%. Cộng dồn cả năm doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 8.655 tỷ đồng, tăng 13,34% so với năm trước; trong đó dịch vụ lưu trú phục vụ 5.884,9 nghìn lượt khách, tăng 12,59% so với năm trước (4.294,9 nghìn lượt khách ngủ qua đêm, trong đó có 128,7 nghìn lượt khách quốc tế) với doanh thu 1.346,3 tỷ đồng, tăng 14,83%; dịch vụ ăn uống 7.145,3 tỷ đồng, tăng 13,01%; dịch vụ du lịch lữ hành 163,4 tỷ đồng, tăng 15,92%.

 Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) tháng 12/2018 ước đạt 535,5 tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2018 ước đạt 1.585,2 tỷ đồng, tăng 13,67%. Tính chung cả năm 2018 ước đạt 5.719,3 tỷ đồng, tăng 12,78%; trong đó kinh doanh bất động sản 2.194,5 tỷ đồng, tăng 12,17%; dịch vụ hành chính 988,2 tỷ đồng, tăng 11,48%; dịch vụ y tế 925,6 tỷ đồng, tăng 16,4%; dịch vụ vui chơi giải trí 435,3 tỷ đồng, tăng 12,61%…

 Hoạt động kinh doanh vận tải quý IV và cả năm 2018 (sau khi đưa Bến xe Bắc Vinh đi vào hoạt động) đã đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, đời sống và đi lại của dân cư nhất là trong ngày tết, ngày lễ, công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động vận tải thường xuyên được duy trì nên đã hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng lèn khách, ép giá, đảm bảo giao thông thông suốt.

 Vận chuyển hành khách tháng 12/2018 ước đạt 6.717 nghìn lượt khách, tăng 11,26% so với cùng kỳ năm trước và 545,75 triệu lượt khách.km, tăng 11,7%; quý IV/2018 ước đạt 19,99 triệu lượt khách, tăng 11,08% so với cùng quý năm trước và 1.623,1 triệu lượt khách.km, tăng 11,47%. Tính chung cả năm 2018 khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 85,97 triệu lượt khách, tăng 12,59% so với năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 6.982 triệu lượt khách.km, tăng 12,93%.

 Khối lượng vận chuyển hàng hóa tháng 12/2018 ước đạt 6.565 nghìn tấn, tăng 7,67% so với cùng kỳ năm trước và khối lượng luân chuyển ước đạt 258,75 triệu tấn.km, tăng 9,64%; quý IV/2018 ước đạt 17,8 triệu tấn, tăng 12,03% so với cùng quý năm trước và 751,62 triệu tấn.km, tăng 7,71%. Tính chung cả năm 2018 khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 72,93 triệu tấn, tăng 12,63% so với năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 3.039,6 triệu tấn.km, tăng 9,21%. Khối lượng khối lượng luân chuyển tăng thấp hơn khối lượng vận chuyển do vận tải đường biển ký được ít hợp đồng (luân chuyển đường biển tăng 3,53%), mặt khác luân chuyển đường biển lại chiếm tỷ trọng tương đối lớn (30%) nên ảnh hưởng đến luân chuyển chung.

 Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 12/2018 ước đạt 786,6 tỷ đồng, tăng 15,42% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2018 ước đạt 2.274,3 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng quý năm trước. Tính chung cả năm 2018 ước đạt 8.970 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 5.642,2 tỷ đồng, tăng 11,10%; doanh thu vận tải hành khách 2.084,8 tỷ đồng, tăng 17,82% và doanh thu bốc xếp, dịch vụ vận tải 1.243 tỷ đồng, tăng 10,69%.

 I. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

 1. Lao động, việc làm, đời sống dân cư

 Dân số tỉnh Nghệ An có hơn 3,157 triệu người; trong đó lực lượng lao động có gần 1,9 triệu người đứng thứ 4 cả nước, hàng năm bổ sung khoảng 40 nghìn người và đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế về nguồn lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức khi giải quyết việc làm cho người lao động.

 Chất lượng nguồn lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm 20,2% và chủ yếu tập trung ở thành thị (thành thị tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 46,5%). Sự chuyển dịch cơ cấu lao động đang còn chậm; lao động trong ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản đang chiếm tỷ lệ lớn (48,2%), lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tương ứng là 23,6% và 28,2%.

 Công tác giải quyết việc làm, chế độ cho người lao động đạt kết quả khá, ước năm 2018 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 38.812 lao động, trong đó giải quyết việc làm trong tỉnh 14.594 người, ngoại tỉnh 9.813 người, xuất khẩu lao động 14.405 người; giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 11.762 lao động với số tiền chi trả 131,26 tỷ đồng; đào tạo nghề cho 72.000 lượt người.

 Phong trào Đền ơn đáp nghĩa được xã hội hóa sâu rộng, trong năm (tính đến 31/10) toàn tỉnh đã thu quỹ đền ơn đáp nghĩa 15 tỷ đồng; hỗ trợ xây dựng mới 100 nhà tình nghĩa với kinh phí 10,3 tỷ đồng; sửa chữa 112 nhà với kinh phí 7,8 tỷ đồng; tặng 1.000 sổ tiết kiệm với số tiền 985 triệu đồng.

 Năm 2018 kinh tế - xã hội tỉnh nhà mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có bước phát triển và giá cả của hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ tăng vừa phải, nên nhìn chung đời sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện hơn tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những người làm công ăn lương và những người thu nhập thấp.Trong khu vực Nhà nước đời sống của cán bộ công nhân viên chức có được cải thiện hơn do tiền lương cơ sở của các đơn vị hành chính, sự nghiệp tăng từ 1.300 nghìn đồng lên 1.390 nghìn đồng (tăng 6,92%) từ tháng 7/2018 và cán bộ, công nhân viên đương chức đều được trả lương, thưởng đầy đủ, đúng kỳ và trong dịp Tết nguyên đán hầu hết các đơn vị đã phát thưởng cho cán bộ, công chức từ 1 đến 2 tháng lương. Các đơn vị sản xuất kinh doanh tuy mức lương tối thiểu được điều chỉnh từ 01/01/2018 nhưng thu nhập của công nhân tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, mức lương bình quân của người lao động trong doanh nghiệp từ 5-5,8 triệu đồng/tháng; dịp Tết nguyên đán các doanh nghiệp đã phát thưởng cho người lao động từ 4,6-5,6 triệu đồng/người, cao nhất là 120 triệu, thấp nhất là 450 nghìn đồng.

 Đối với hộ sản xuất nông nghiệp do thời tiết năm nay không được thuận lợi nhưng do sự chủ động của bà con nông dân nên sản xuất nông nghiệp cơ bản đạt kế hoạch đề ra, do đó đời sống của nhân dân cũng được cải thiện hơn nên tính đến thời điểm 15/12/2018 trên địa bàn tỉnh không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo còn 5,54%.

 Để mọi người dân đều có cái Tết nguyên đán Mậu Tuất vui tươi, đầy đủ Ủy ban Nhân dân tỉnh đã trích ngân sách hơn 50,3 tỷ đồng để chi cho việc thăm hỏi, tặng quà người có công, gia đình chính sách và các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó quà của Chủ tịch nước là 18,4 tỷ đồng, quà ngân sách tỉnh 10,5 tỷ đồng, quà ngân sách huyện 21,4 tỷ đồng. Ngoài ra các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân đã ủng hộ chương trình “Tết vì người nghèo” với số tiền 60,4 tỷ đồng, Chính phủ hỗ trợ 1860,6 tấn gạo cứu đói cho các hộ nghèo đói…             

 Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và khắc phục khó khăn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 với 3 hợp phần; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt theo quyết định 755/QĐ-TTg; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số theo quyết định 54/QĐ-TTg; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 theo quyết định 2085/QĐ-TTg; … Ngân hàng chính sách xã hội từ đầu năm đến 10/12 đã giải ngân cho 30.240 hộ nghèo vay vốn với số tiền 1.201,6 tỷ đồng, cho vay 71,4 tỷ đồng để giải quyết việc làm cho 2.027 người; cho 1.126 học sinh, sinh viên vay 58,3 tỷ đồng; cho vay sản xuất kinh doanh 344,7 tỷ đồng; cho vay chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn 303,9 tỷ đồng…       

 Tính đến ngày 31/10/2018 toàn tỉnh có 2.789.745 người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, trong đó tham gia BHXH bắt buộc là 218.918 người, BHXH tự nguyện 25.907 người, BHYT 2.763.838 người, BHTN 187.639 người; Tổng thu BHXH, BHYT, BHTN là 4.525.621 triệu đồng, trong đó thu BHXH bắt buộc 2.312.343 triệu đồng, thu BHXH tự nguyện 108.633 triệu đồng, thu BHYT 1.930.217 triệu đồng, thu BHTN 161.223 triệu đồng.

2. Giáo dục

Tích cực thực hiện Nghị quyết 29-QN/TW về đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo. Nhìn chung chất lượng giáo dục có chuyển biến, việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho học sinh tiếp tục được quan tâm; triển khai tích cực phổ cập giáo dục mầm non, trẻ mẫu giáo 5 tuổi; củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục phổ thông; việc đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng nề nếp.

Năm học 2017-2018 toàn tỉnh có 48.356 em học sinh hoàn thành chương trình tiểu học chiếm 99,5%; 37.876 em hoàn thành chương trình THCS, chiếm 98,6%. Năm 2018 tiếp tục tổ chức 1 kỳ thi quốc gia (gọi là kỳ thi trung học phổ thông quốc gia) và lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp THPT và làm căn cứ tuyển sinh đại học, cao đẳng. Kết quả 29.255/29.866 em đậu tốt nghiệp THPT chiếm tỷ lệ 97,95%. Tuy nhiên trong năm học 2017-2018 có 1.874 em bỏ học, trong đó học sinh THPT bỏ học 1.054 em, chiếm tỷ lệ 1,17%; học sinh THCS bỏ học 799 em, chiếm tỷ lệ 0,45%.

Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2018 Nghệ An có 105 học sinh đạt giải (Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu 90 giải, Trường THPT chuyên Đại học Vinh 15 giải), đứng thứ 3 cả nước, trong đó có 4 giải nhất, 24 giải nhì, 42 giải ba và 35 giải khuyến khích. Trong năm 2018 đã công nhận thêm 49 trường chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường chuẩn quốc gia lên 1.070 trường, đạt tỷ lệ 70,44%.

Từ ngày 10-13/3/2018 tại Thành phố Vinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia học sinh trung học năm học 2017-2018 khu vực phía Bắc; Kết quả Ban Tổ chức đã trao 124 giải cho các dự án xuất sắc, trong đó có 13 giải nhất, 26 giải nhì, 38 giải ba, 47 giải tư; Đoàn Nghệ An xếp thứ 2 với 2 giải nhất, 2 giải ba và 5 giải tư. Tong năm đã tham gia Hội thi giải toán bằng tiếng anh Hà Nội mở rộng đạt 4 huy chương vàng, 3 huy chương bạc và 4 huy chương đồng, xếp thứ 2 toàn quốc ở khối THPT.

Ngày 22/8/2018 Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An có Quyết định công bố 110 học sinh được tuyên dương, trong đó 1 em đạt huy chương đồng kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế, 66 em học sinh giỏi và 35 đạt điểm cao nhất của các khối thi trong kỳ thi THPT quốc gia. Tổng số tiền khen thưởng gần 1,9 tỷ đồng để động viên và tôn vinh thành tích xuất sắc mà các em và giáo viên đạt được trong năm học.

3. Y tế

Trên địa bàn tỉnh tình hình dịch bệnh ổn định, không có dịch lớn và nguy hiểm xảy ra; tổ chức giám sát chặt chẽ các loại dịch bệnh; chủ động và tích cực phòng chống các bệnh truyền nhiễm gây dịch, khống chế có hiệu quả các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh đầu tiên, chủ động xử lý, không để dịch phát triển và lan rộng. 

Tiếp tục duy trì củng cố và phát triển, hoàn thiện các kỹ thuật cao phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tổ chức triển khai thực hiện phương án tự chủ tại 15 Bệnh viện (tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính) đạt kết quả tốt.

Tăng cường công tác truyền thông đảm bảo an toàn thực phẩm; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm trên địa bàn, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội Xuân 2018. Nhờ vậy, đã giảm thiểu nguy cơ xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm so với năm trước.

Tuy nhiên trong kỳ các bệnh thông thường vẫn xảy ra, tháng 12/2018 tiêu chảy xảy ra 895 ca; sốt rét 7 ca; quý IV/2018 tiêu chảy xảy ra 2.808 ca, sốt rét 25 ca, sốt xuất huyết 45 ca. Tính chung cả năm tiêu chảy có 10.516 ca, Sốt rét 145 ca, sốt xuất huyết 128 ca, ngộ độc thực phẩm 7 vụ. So với năm trước tiêu chảy giảm 1,3% (-138 ca), sốt rét giảm 30,29% (-63 ca), sốt xuất huyết giảm 77,7% (-446 ca). Nguyên nhân chính gây ra các vụ tiêu chảy và ngộ độc là do thời tiết, uống bia rượu nhiều, ăn các thức ăn chế biến có ướp hoá chất, rau hoa quả phun thuốc sâu và thuốc kích thích.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 31/10/2018 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 11.945 người, trong đó có 9.706 người trong tỉnh. Căn bệnh HIV đã xảy ra ở 447/480 xã/phường/thị trấn của 21 huyện/thành phố/thị xã. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.013 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.217 người.

4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Năm 2018 công tác văn hóa thông tin chủ yếu tập trung tuyên truyền, trang trí cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc như:  Kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng; 63 năm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2; 29 năm ngày biên phòng toàn dân; Ngày thành lập đoàn TNCS HCM 26/3; 108 năm ngày Quốc tế Phụ nữ; 128 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 73 năm cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2/9; … Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị.

Trong những tháng đầu năm khắp nơi trong toàn tỉnh đã tổ chức các lễ hội như: Lễ hội Vua Mai ở huyện Nam Đàn, Lễ hội đền Vạn Lộc ở Cửa Lò, lễ hội Hang Bua ở Quỳ Châu, lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp, lễ hội đền Quả Sơn ở Đô Lương, lễ hội đền Vạn – Cửa Rào, lễ hội đền Cờn ở Quỳnh Lưu, lễ hội Đền Nguyễn Xí ở Nghi Lộc, Lễ hội Làng Vạc ở Thị xã Thái Hòa,... Các lễ hội trên được tổ chức trang nghiêm, thành kính và các chương trình ca nhạc đặc sắc cùng với tổ chức thi đấu các môn thể dục thể thao như bóng đá, bóng chuyền, đua thuyền, ném tiêu, cờ thẻ, chọi gà, đu tiên, đẩy gậy, đốt lửa trại...

Về thể dục thể thao tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, kỷ niệm 72 năm  ngày thể thao Việt Nam nhiều hoạt động thể dục thể thao quần chúng từ tỉnh đến cơ sở phát triển mạnh mẽ cả quy mô và chất lượng như: Tổ chức các giải thể thao truyền thống trong các lễ hội, trong các ngành. Tổ chức thành công Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ VIII, Hội khỏe phù đổng lần thứ XVIII.

Trong năm 2018 thể thao thành tích cao đã đạt được 268 huy chương các loại, trong đó có 1 HCB, 2 HCĐ châu Á; 1 HCV, 1 HCB Đông Nam Á; Giải vô địch cầu mây thế giới đạt 1 HCV, 3 HCB. Đội bóng đá U11, U13, U15 đạt HCV; Đội U17 đạt HCB; Đội U19 đạt HCĐ; Đội U19 vào vòng bán kết; Cúp Quốc gia đạt HCĐ; Tổ chức tốt các trận bóng đá chuyên nghiệp quốc gia tại sân vận động Vinh; Công ty cổ phần bóng đá SLNA kết thúc V-League 2018 thắng 12 trận, hòa 6 trận được 42 điểm xếp thứ 4 trong 14 đội tham gia.

Năm 2018, tỷ lệ gia đình văn hóa ước đạt 83,5%; tỷ lệ làng, bản, khối phố văn hóa đạt 60%; tỷ lệ xã, phường, thị trấn có thiết chế văn hóa – thể thao theo tiêu chí của Bộ VHTTDL đạt 45%; tỷ lệ gia đình thể thao đạt 22,7%; tỷ lệ người tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 33%.

5. Trật tự, an toàn xã hội

Trong tháng (từ 10/11 đến 10/12) trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 81 vụ, bắt giữ 88 đối tượng phạm pháp kinh tế chủ yếu là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu; quý IV/2018 xảy ra 232 vụ, bắt giữ 271 đối tượng. Cộng dồn cả năm đã xảy ra 1.309 vụ với 1.551 đối tượng phạm pháp kinh tế, tăng 38,23% số vụ và tăng 28,71% đối tượng so với năm trước.

Phạm pháp hình sự tháng 12/2018 xảy ra 126 vụ với 186 đối tượng, tội phạm chủ yếu là trộm cắp, cướp giật tài sản công dân; quý IV/2018 xảy ra 329 vụ với 510 đối tượng. Tính chung cả năm xảy ra 1.313 vụ với 2.009 đối tượng phạm pháp hình sự, tăng 0,08% số vụ nhưng giảm 4,92% số đối tượng so với năm trước.

Tháng 12/2018 buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý xảy ra 36 vụ 50 đối tượng; quý 4 xảy ra 129 vụ 160 đối tượng; Trong tháng có 77 đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện; quý 4 có 161 đối tượng; Trong tháng có 8 đối tượng hoạt động mại dâm; quý 4 có 29 đối tượng. Tính chung cả năm số vụ buôn bán, vận chuyển ma túy có 816 vụ bị phát hiện, tăng 19,47% so vời năm trước; bắt giữ 983 người, tăng 14,7%; số đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện 583 người, giảm 7,75%; số đối tượng hoạt động mại dâm 114 người, tăng 34,12%.

 Trong tháng 12/2018 xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, làm chết 13 người, bị thương 49 người, ước giá trị thiệt hại 1.708 triệu đồng; quý IV/2018 xẩy ra 137 vụ tai nạn giao thông (tất cả là tai nạn giao thông đường bộ), làm chết 43 người, bị thương 119 người, ước giá trị thiệt hại 4.230 triệu đồng. Như vậy trong năm 2018 đã xẩy ra 482 vụ tai nạn giao thông (trong đó 479 vụ tai nạn giao thông đường bộ), làm chết 224 người, bị thương 427 người, ước giá trị thiệt hại 14.313 triệu đồng. So với năm trước số vụ tai nạn giao thông tăng 8,8% (+39 vụ), số người chết tăng 3,23% (+7 người), bị thương giảm 3,39% (-15 người).

Trong tháng phát hiện 6 vụ đánh bạc, thu giữ 215 triệu đồng; quý 4 phát hiện 13 vụ đánh bạc thu giữ 371 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung cả năm phát hiện 79 vụ đánh bạc thu giữ 56.531 triệu đồng, 4.000 USD và nhiều tài sản khác.

6. Cháy, nổ, bảo vệ môi trường

Trong tháng xảy ra 1 vụ cháy; đã phát hiện và xử lý 14 vụ gây ô nhiễm môi trường, xử phạt 104 triệu đồng; Quý 4/2018 xảy ra 11 vụ cháy, làm 1 người bị thương, ước giá trị thiệt hại 10.174 triệu đồng. Cộng dồn cả năm xảy ra 79 vụ cháy, 1 vụ nổ làm 4 người bị thương, ước giá trị thiệt hại 15,69 tỷ đồng; 154 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 1,33 tỷ đồng, chủ yếu không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, kinh doanh vận chuyển hàng hóa không rõ nguồn gốc.

Khái quát lại: Năm 2018, tình hình nền kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An còn gặp nhiều khó khăn, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng, sức cạnh tranh của hàng hóa thấp, lãi suất có xu hướng tăng lên, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự điều hành tích cực của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà vẫn ổn định và phát triển: tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 8,77%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 16,53%, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 12,99%, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 4,67%, thu ngân sách tăng 3,11%, văn hóa xã hội có chuyển biến tích cực, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, với mục tiêu là Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo các mục tiêu an sinh và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng các ngành, các cấp cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đồng bộ, toàn diện, thực chất hơn. Tập trung khai thác, phát huy tiềm năng lợi thế để phát triển nhanh, bền vững; nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bám sát các chủ trương của Quốc hội, Chính phủ về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng kịch bản tăng trưởng năm 2019 để tập trung chỉ đạo ngay từ những tháng đầu năm.

Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, liên kết chuỗi giá trị, bảo đảm đầu ra cho nông sản, tăng thu nhập cho nông dân. Tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đẩy nhanh tiến độ Chương trình xây dựng nông thôn mới, triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 27 xã khu vực biên giới của tỉnh.

Ba là, tập trung chỉ đạo quyết liệt phát triển công nghiệp. Cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng phát triển những dự án sử dụng công nghệ mới, tiên tiến, đảm bảo về môi trường. Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ. Phát huy tối đa vai trò các ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế cạnh tranh của tỉnh đã xác định. Tiếp tục triển khai hiệu quả các dự án công nghiệp. Nâng cao hơn nữa vai trò của các ngành dịch vụ đối với phát triển kinh tế. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao như bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm... Đa dạng hóa sản phẩm, chú trọng quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch; nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ du lịch, xây dựng môi trường du lịch thân thiện, văn minh, bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách để du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

Bốn là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến, thu hút đầu tư. Chuẩn bị chu đáo Hội nghị xúc tiến đầu tư đầu năm 2019. Tiếp tục kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án; xử lý nghiêm túc các dự án chậm triển khai.

Năm là, chăm lo, phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, tiền lương, giáo dục - đào tạo, y tế, dân số. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách. Tiếp tục làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ thuốc chữa bệnh, hành nghề y dược tư nhân; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng; giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Phát triển phong trào thể dục, thể thao trong mọi tầng lớp nhân dân và thể thao thành tích cao của tỉnh.

Sáu là, tiếp tục cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về đổi mới, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Siết chặt kỷ luật hành chính, tăng cường thanh tra công vụ.

Bảy là, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tích cực đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, tín dụng đen./.

                                                            Nguồn: Thái Bá Minh, Cục Thống kê Nghệ An(1/1/2019) 

https://nghean.gov.vn/wps/portal/mainportal/chitiet?WCM_PORTLET=PC_7_GTNDM9S3474CC0AACSHT652M44_WCM&WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/web+content/portal_na/gtna/ttktxa/ctth/df7b7e00485c75909a92fbac23bc0c7c

Tags: