CÔNG NGHỆ TRỒNG THỦY CANH

           Công nghệ trồng thủy canh là một giải pháp sản xuất rau sạch “thông minh”, được bộ sung đầy đủ dinh dưỡng theo chuẩn quốc tế, không ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng.

           Với tốc độ đô thị hóa như hiện nay thì việc thiếu đất canh tác đang là một vấn đề được đặt ra cho nhiều ngành cũng như các cơ quan chức năng. Đi kèm với nó, cuộc sống của người dân nơi đô thị hiện đang phải đối mặt với nhiều thực trạng, trong đó có vấn đề về sử dụng rau sạch cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình. Do vậy, việc sản xuất rau quả an toàn và chất lượng cao bằng công nghệ trồng thủy canh đã được thế giới công nhận và rất phù hợp cho Việt Nam (là một nước đông dân và có tới 70% dân số làm nông nghiệp). Công nghệ trồng thủy canh ra đời không chỉ đáp ứng được nhu cầu cấp thiết về rau sạch hiện nay cho người tiêu dùng, nâng cao sức khỏe cho cộng đồng mà còn cải thiện môi trường sống xung quanh, cụ thể như giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tăng diện tích cây xanh, giảm hàm lượng khí thải CO2, tăng sinh dưỡng khí O2, nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp…

                                  

                                                            Dàn trồng rau theo công nghệ thủy canh

1.     NGUỒN GỐC CỦA CÔNG NGHỆ TRỒNG THỦY CANH

Thủy canh đã có từ nhiều thế kỉ trước ở vùng Amazon, Babylon, Ai Cập, Trung Quốc và Ấn Độ. Người xưa đã sử dụng phân bón hòa tan để trồng dưa chuột, dưa hấu và nhiều loại rau củ khác ở các lòng sông đầy cát. Sau đó, các nhà sinh lý thực vật bắt đầu trồng các loại cây trên những môi trường dinh dưỡng đặc biệt vì mục đích thí nghiệm, họ gọi đó là "nuôi cấy dinh dưỡng" (nutriculture)

      Những ứng dụng thực nghiệm của "nuôi cấy dinh dưỡng" bắt đầu được chú ý vào năm 1925, khi kỹ thuật nhà kính có nhiều vấn đề cần được quan tâm đặc biệt: đất trong nhà kính phải được thay thế thường xuyên để khắc phục các vấn đề về cấu trúc đất, phân bón và sâu bọ. Kết quả là các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến ưu thế của "nuôi cấy dinh dưỡng" so với nuôi cấy trong đất theo kiểu truyền thống.

2.     TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRỒNG THỦY CANH

     Thuật ngữ "thủy canh" (hydroponics) lần đầu tiên được Gericke (1937) giới thiệu để mô tả tất cả các phương pháp nuôi trồng thực vật trong môi trường lỏng cho mục đích thương mại. Ngoài Gericke, nhiều nhà khoa học khác cũng đã đưa ra nhiều kỹ thuật và phương pháp nuôi trồng thực vật không cần đất (soiless culture) trên qui mô thương mại trong thập niên 1930 (Lauria, 1931; Eaton, 1936; Withorow và Biebel, 1936; Mllard và Stoughton, 1939; Amon và Hoagland, 1940). Tuy kết quả khảo sát trên qui mô thương mại chưa khả quan, nhưng công nghệ trồng  thủy canh vẫn thu hút được rất nhiều sự quan tâm. Ý tưởng về công nghệ trồng thủy canh cho các loại cây có sức sống tốt, sản xuất rau quả, trái cây và hoa không cần đất hấp dẫn với nhiều người.

     Trong và ngay sau thế chiến thứ II, công nghệ trồng thủy canh được quân đội Hoa kỳ sử dụng khá rộng rãi để trồng rau quả ở một số nơi mà đất bị nhiễm độc do chiến tranh. Trong suốt hai thập niên 1950 và 1960, diện tích canh tác thủy canh trên toàn thế giới vẫn chưa có ý nghĩa quan trọng và những nghiên cứu về chúng còn rất ít. Đến cuối thập niên 1960, mối quan tâm về áp dụng công nghệ trồng thủy canh trong qui mô thương mại tăng lên, thể hiện rõ ở khối liên hiệp Anh, Hà Lan và các quốc gia Scandinavie.

Đến năm 1975, Cooper đưa ra kỹ thuật màng dinh dưỡng (NFT – nutrient film technique), là kỹ thuật thủy canh đầu tiên được sử dụng trên qui mô lớn.

    2.1 Trên thế giới:

      Nhật Bản là một trong những nước tiên phong trong công nghệ  trồng thuỷ canh. Từ rất lâu họ đã đẩy mạnh kỹ thuật thủy canh để sản xuất rau sạch. An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề mà người Nhật rất quan tâm, lo ngại và thận trọng đối với những phụ gia thực phẩm hay thuốc trừ sâu nông nghiệp. Hơn nữa vì diện tích đất canh tác quá hạn hẹp nên chính phủ Nhật rất khuyến khích và trợ giúp công nghệ trồng thủy canh này, rau sạch sản xuất bằng phương pháp này giá đắt hơn 30% so với rau trồng ở môi trường bên ngoài nhưng tiêu dùng vẫn chấp nhận.

     Ở Singapore liên doanh Areo green Technology là công ty đầu tiên ở châu Á áp dụng công nghệ trồng  thủy canh cho rau trong dung dịch dinh dưỡng, không cần đất và không phải dùng phân hóa học có hại để sản xuất rau với quy mô lớn. Hàng năm Singapore tiêu thụ lượng rau trị giá 260 triệu USD. Vì đất có giới hạn nên hơn 90% rau xanh được nhập khẩu, hiện tại nông trại Areo Green ở Lim Chu Kang trị giá 5 triệu USD đang được thu hoạch khoảng 900 kg rau mỗi ngày.

                                 

                                                                 Tình hình nghiên cứu công nghệ Thủy canh trên thế giới
                                                                (Tính theo số lượng bằng sáng chế từ năm 1966 đến nay)

     Trong khi đó ở các vùng khô cằn như Vịnh Ả rập, Israel,công nghệ trồng thủy canh được sử dụng rất phổ biến để trồng rau.

     Ở các nuớc Châu Mỹ La Tinh rau sạch cũng là sản phẩm chính từ công nghệ trồng thủy canh. Hà Lan có hơn 3600 cây trồng không cần đất, Nam Phi có khoảng 400 ha.

 2.2 Trong nước:

     Từ năm 1993, GS.Lê Đình Lương – khoa Sinh học ĐHQG Hà Nội phối hợp với viện nghiên cứu và phát triển Hồng Kông (R&D Hong Kong) đã tiến hành nghiên cứu tòan diện các khía cạnh khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội cho việc chuyển giao công nghệ trồng thủy canh và phát triển thủy canh tại Việt Nam.

                                 

                                                 Mô hình trồng rau thủy canh thu hút sự quan tâm của đông đảo khách tham quan

Đến tháng 10 năm 1995 mạng lưới nghiên cứu và phát triển về công nghệ thủy canh được áp dụng ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Côn Đảo, Sở khoa học công nghệ và môi trường ở một số tỉnh thành. Công ty Golden Garden & Gino, nhóm sinh viên Đại học KHTN Thành Phố Hồ Chí Minh áp dụng  công nghệ trồng thủy canh cho vài loại rau thông dụng, cải xanh, cải ngọt, xà lách... Phân viện công nghệ sau thu hoạch, Viện Sinh học nhiệt đới cũng nghiên cứu và sản xuất các chế phẩm phục vụ cho việc nuôi trồng thủy canh ở quy mô gia đình.

Hiện nay công nghệ trồng thủy canh đã được nhiều người quan tâm và biết đến. Nhiều công ty nghiên cứu để cho ra các sản phẩm thủy canh đáp ứng nhu cầu trồng rau sạch của người dân. Đã có rất nhiều người áp dụng thành công công nghệ trồng thủy canh này để tự cung cấp nguồn rau quả sạch cho bữa ăn của gia đình mình. Trong tương lai, công nghệ trồng thủy canh sẽ được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực sản xuất thương mại.. Do không sử dụng đất khi trồng nên kỹ thuật thủy canh có thể thích hợp với nhiều điều kiện khác nhau, từ vùng hải đảo đến cao nguyên, từ vùng khô hạn đến vùng ẩm ướt. Điều này cho thấy tính hiệu quả và khả năng phổ biến của kỹ thuật thủy canh là rất cao.

                                  

                                  

                                 

                                  

                                                                                      Mô hình trồng rau thủy canh

3.     NHỮNG LỢI ÍCH CÔNG NGHỆ THỦY CANH MANG LẠI

·        Đáp ứng nhu cầu cấp bách về rau sạch hiện nay của toàn xã hội;

·        Tiết kiệm đất canh tác (ngay cả khi không có đất trồng) nên có thể áp dụng cho mọi không gian có nắng chiếu trực tiếp, nhà phố diện tích hẹp là sự lựa chọn tối ưu cho phương pháp này. Và mọi người  thể trồng rau sạch tại nhà do tiết kiệm được không gian và thời gian chăm sóc. Vì vậy, sản phẩm đặc biệt thích hợp với các căn hộ ở những khu đô thị, thành phố lớn. Một giàn hoặc một tháp rau 10 ống (diện tích 2,0m x 0,5m x 2,1m) sẽ cho lượng rau tương đương trồng trên 10m2 đất;

THAM KHẢO TRỒNG RAU CHO NHÀ PHỐ

·         Góp phần cải thiện môi trường, cung cấp ôxy, làm giảm hiệu ứng nhà kính và tạo ra không gian xanh trong không gian tổng thể của ngôi nhà. Giàn hoặc Tháp rau có tác dụng như một lá chắn nhiệt, hơi nước tỏa ra từ những lá rau lúc nắng nóng sẽ có tác dụng làm mát ngôi nhà. Ngoài ra, người sử dụng có thể thưởng thức hoa tươi khi thay vào “vườn rau” bằng những cây hoa;

·         Nâng cao ý thức về sự thân thiện với môi trường sống và bổ sung sự hiểu biết về sinh học nông nghiệp cho các em ở độ tuổi học sinh bằng những trực quan sinh động về sự sinh trưởng và phát triển của thực vật;

·         Tạo cho người trồng một cảm giác thư giãn khi chăm sóc và ngắm nhìn những những Giàn hoặc Tháp rau xanh mơn mởn. Đồng thời khi sử dụng rau trực tiếp từ “vườn” (không qua bảo quản) bạn sẽ cảm nhận được “nghệ thuật ẩm thực” qua sự “ngon miệng”.

                              Sưu tầm: Võ Thị Dung (nguồn http://www.nongnghiepsach)

Tags: