Xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam

ThS. Hoàng Thị Thúy Hằng - Khoa Kinh tế Quản trị kinh doanh

Tóm tắt: Thương hiệu có vai trò quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả đối với người tiêu dùng. Thương hiệu mạnh là tài sản vô giá của doanh nghiệp. Nhận thức về giá trị của một thương hiệu mạnh đã làm thay đổi căn bản hoạt động cũng như cơ cấu tổ chức kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong những năm gần đây. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt nam đang gặp khó khăn trong quá trình xây dựng thương hiệu. Bài viếtXây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp Việt nam” nhằm phân tích thực trạng xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp Việt nam, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng thành công thương hiệu của mình trên thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Xây dựng thương hiệu là việc cần thiết để thiết lập, quảng bá và duy trì hình ảnh của công ty. Từ logo đến những câu tagline, các công ty đều phấn đấu để giúp cho chúng có thể nhận ra ngay lập tức. Tuy nhiên, vấn đề xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam là vấn đề không đơn giản, đặc biệt với các doanh nghiệp trong phạm vi hữu hạn của nguồn vốn kinh doanh.

2. NỘI DUNG

2.1. Khái niệm về thương hiệu

   Hiện nay, thuật ngữ thương hiệu đang được sử dụng rất rộng rãi ở Việt Nam. Tại rất nhiều diễn đàn cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng đều nói đến  thương hiệu.  Tuy nhiên, vẫn đang còn tồn tại một số quan niệm khác nhau về thuật ngữ này. Có quan niệm  thì đồng nghĩa nhãn hiệu với thương hiệu, có quan niệm thì lại phân biệt nhãn hiệu với thương hiệu. Trong hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam hiện nay không có khái niệm về thương hiệu mà chỉ có các khái niệm như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý  hay tên gọi xuất xứ hàng hóa. Tổng hợp từ nhiều quan điểm khác nhau, có thể hiểu thương hiệu một cách tương đối như sau: “Thương hiệu là tổng  hợp tất cả các yếu tố vật chất,  thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một  sản phẩm (hoặc doanh nghiệp), bao gồm bản thân sản phẩm,  tên,  logo,  hình  ảnh và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm  thiết lập một chỗ đứng tại đó”. Như vậy thương hiệu là một thuật ngữ với nội hàm rộng:

Thứ nhất, là hình tượng về  hàng hoá hoặc doanh nghiệp. Đã là hình tượng thì chỉ có    cái tên, cái biểu trưng thôi chưa đủ để nói lên tất cả. Yếu tố quan trọng ẩn đằng sau là làm cho những cái tên, cái biểu trưng đó đi vào tâm trí khách hàng chính là chất lượng sản phẩm, cách ứng xử của doanh nghiệp với  khách hàng và  với cộng đồng,  những lợi  ích đích thực cho  người tiêu dùng do những sản phẩm đó mang lại.

Thứ hai, những dấu hiệu thương hiệu phải được xác lập và tồn tại rõ ràng trong tâm trí khách hàng. Thông qua  những dấu hiệu đó,  khách hàng dễ  dàng nhận biết sản phẩm của  doanh nghiệp trong muôn vàn những hàng hoá khác.

Thứ ba, xét dưới góc độ giá trị mà thương hiệu cung cấp cho khách hàng, thì ngoài các thuộc tính chức năng hay công dụng của sản phẩm thông thường, thương hiệu mang lại những cảm xúc từ sản phẩm đó. Và hơn thế  nữa, theo Philip  Kotler, một thương hiệu suất sắc mang  lại màu sắc và âm hưởng cho sản phẩm của doanh nghiệp.

2.2. Vai trò của việc xây dựng thương hiệu đối với DN

Theo Jack Trout, thương hiệu là một cam kết tuyệt đối về chất lượng, dịch vụ, giá trị trong một thời gian dài đã được chứng nhận qua hiệu quả sử dụng và bởi sự thỏa mãn của người tiêu dùng. Với David A. Aaker, thương hiệu là hình ảnh có tính chất văn hóa, lý tính, cảm tính, trực quan và độc quyền mà bạn liên tưởng tới khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty.

Sở dĩ doanh nghiệp (DN) cần phải xây dựng thương hiệu là bởi xây dựng thương hiệu chính là tạo dựng uy tín của DN đối với người tiêu dùng. Bên cạnh đó, khi đã tạo dựng được thương hiệu nổi tiếng, các nhà đầu tư cũng không e ngại một khi đầu tư vốn vào DN; bạn hàng của DN cũng sẽ sẵn sàng hợp tác kinh doanh, cung cấp nguyên liệu và hàng hoá cho DN. Thương hiệu luôn là tài sản vô hình nhưng có giá trị rất lớn của DN. Quan trọng hơn, thông qua thương hiệu người tiêu dùng tin tưởng, yên tâm hơn và mong muốn được lựa chọn, tiêu dùng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của DN… Chính những điều đó đã thôi thúc các DN Việt Nam, ngay cả đó là các DN nhỏ và vừa (DNVVN) trong xây dựng và phát triển thương hiệu.

2.3. Thực trạng công tác xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và quốc tế đã mang đến nhiều cơ hội xuất khẩu hàng hóa đối với Việt Nam nhưng cũng tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt, không chỉ ở thị trường quốc tế mà ngay cả ở thị trường trong nước. Đáp ứng yêu cầu hội nhập, xây dựng thương hiệu là điều cần thiết, bởi đây không chỉ là tấm giấy thông hành giúp DN trong hoạt động xuất khẩu, cạnh tranh "sòng phẳng" với các DN nước ngoài, mà còn tạo danh tiếng, thương hiệu của cả một quốc gia. Tuy nhiên, nhiều đánh giá cho thấy, đến nay thương hiệu vẫn là điểm yếu của các DN Việt Nam. Phần lớn các DN Việt Nam chưa quan tâm đến vấn đề này, nhất là đối với các DNVVN. Theo khảo sát của Bộ Công thương, hiện nay mới chỉ khoảng 20% doanh nghiệp (DN) Việt đầu tư xây dựng thương hiệu. Thông tin trên được đưa ra tại hội thảo “Thương hiệu trong chiến lược phát triển doanh nghiệp”, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với một số đơn vị tổ chức ngày 29/10.

Lý giải về điều này, các chuyên gia cho rằng, nguyên nhân là do các DN Việt còn bị hạn chế về nhiều mặt, nhất là về nguồn lực tài chính nên chưa đủ sức xây dựng được thương hiệu cho riêng mình. Bên cạnh đó, còn không ít DNVVN có quan niệm việc xây dựng thương hiệu là tốn kém, lãng phí và chỉ phù hợp với những DN lớn.

Chính bởi tư duy đó mà nhiều DNVVN Việt Nam bị lép vế, yếu thế và dẫn đến hậu quả nhiều khách hàng đã quay lưng lại với các sản phẩm trong nước, quan tâm đến các sản phẩm có thương hiệu nước ngoài.

Mặt khác, các DN chỉ chú trọng đăng ký thương hiệu tại thị trường trong nước, chứ chưa đăng ký tại thị trường nước ngoài. Điều này khiến DN chịu thiệt đơn, thiệt kép.

Đơn cử như đã có nhiều trường hợp, sản phẩm của DN Việt Nam rất nổi tiếng và được ưa chuộng trên thế giới như cà phê Trung Nguyên, mít sấy Vinamit, giày dép Bitis… do chưa chú ý đăng ký nhãn hiệu nên đã bị chiếm đoạt thương hiệu tại một số thị trường nước ngoài, gây tổn thất lớn trong việc mở rộng thị trường và cạnh tranh với hàng ngoại nhập.

Hay như trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản, mặc dù Việt Nam luôn đứng đầu trong top đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu… nhưng nông sản mang thương hiệu Việt Nam trên thị trường thế giới hiện rất khiêm tốn. Thương hiệu nông sản mang tên DN Việt Nam rất ít được biết đến mặc dù chất lượng các mặt hàng nông sản xuất khẩu được thị trường nhiều nước ưa chuộng.

Không chỉ về nhận thức, mà hạn chế của doanh nghiệp Việt nam trong xây dựng thương hiệu còn là ở nguồn lực, các doanh nghiệp chưa có nhiều nguồn lực về con người, tài chính để đầu tư cho hoạt động xây dựng, phát triển thương hiệu. Cản trở đó đã làm cho các doanh nghiệp Việt, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp rất nhiều khó khăn trong xây dựng thương hiệu, giá trị thương hiệu thấp dẫn đến giá trị sản phẩm cũng không được đánh giá cao. Mặc dù Việt Nam có nhiều sản phẩm, ngành hàng có chất lượng, đã xuất khẩu được số lượng lớn nhưng giá trị mang lại chưa cao do chưa xây dựng, khẳng định được thương hiệu. Đơn cử như ngành hàng lúa gạo, cùng là loại gạo 5% tấm nhưng gạo của Mỹ có giá 510-520 USD/tấn, gạo Thái Lan có giá 400 USD/tấn, trong khi gạo Việt Nam chỉ bán được với giá 350 USD/tấn.

2.4. Các xu hướng xây dựng thương hiệu Việt nam

   Trong một khảo sát mới đây được thực hiện bởi Mibrand Việt Nam nhằm phác hoạ bức tranh về hiện trạng và các nhu cầu xây dựng chiến lược thương hiệu tại thị trường Việt Nam, 4 xu hướng về thương hiệu đã được công bố.

Cuộc khảo sát được tiến hành online trong vòng một tháng, từ 1/4 đến 30/4/2018 với các đối tượng được khảo sát hiện đang hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ, tài chính/ngân hàng, giáo dục, bán lẻ, mỹ phẩm làm đẹp, bảo hiểm, xây dựng , chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ đồ ăn/uống... Một con số khá đáng chú ý được đưa ra đó là với cách thức xây dựng thương hiệu mà các doanh nghiệp lựa chọn hiện giờ, có tới 79,62% lựa chọn tự thực hiện.

Khảo sát cho thấy có 4 vấn đề chính trong quá trình xây dựng thương hiệu tại Việt Nam. Thứ nhất, thiếu công cụ, phương pháp khi tự thực hiện xây dựng thương hiệu bằng nguồn lực nội bộ của doanh nghiệp; Thứ hai, Khó khăn trong việc đo lường kết quả, chất lượng thực hiện các hoạt động xây dựng thương hiệu; Thứ ba, nhiều người còn nghi ngờ chất lượng và chi phí khi thuê ngoài (Agency, chuyên gia tư vấn) thực hiện xây dựng thương hiệu; Và cuối cùng, đó là ít người được khảo sát hài lòng với kết quả thu được khi thuê ngoài (Agency, chuyên gia tư vấn) thực hiện xây dựng thương hiệu.

Bản khảo sát cũng đã tổng hợp các ý kiến, từ đó phân tích và đưa ra 04 xu hướng xây dựng Thương hiệu Việt Nam hiện nay đó là: Định vị và tái định vị thương hiệu; Xây dựng đội ngũ các chuyên gia thương hiệu nội bộ; Xây dựng và tích luỹ giá trị thương hiệu; Đo lường được hiệu quả các hoạt động truyền thông.

Xu hướng 1, để định vị và tái định vị thương hiệu, doanh nghiệp cần hiện thực hóa hình ảnh liên tưởng thương hiệu khác biệt hóa thông qua truyền thông và hành động; Định hướng và chuẩn hoá ý tưởng cho hoạt động truyền thông trong dài hạn (03 - 05 năm). Đây cũng chính là cơ sở vững chắc để xây dựng băn hóa doanh nghiệp.

Xu hướng 2, xây dựng đội ngũ các chuyên gia thương hiệu nội bộ. Để làm tốt điều này, doanh nghiệp cần thay đổi thói quen thực hiện truyền thông thương hiệu bằng cách tự xây dựng chiến lược thương hiệu và tăng cường liên kết chặt chẽ với tất cả các phòng, ban; Tối thiểu chi phí thuê ngoài, tái định nghĩa vai trò của các chuyên gia tư vấn và Agency.

Ví dụ được đưa ra về doanh nghiệp đã thành công trong việc xây dựng đội ngũ các chuyên gia thương hiệu nội bộ đó là Vinamilk. Từ 2005, Vinamilk đã tổ chức các chiến dịch với đội ngũ marketing nội bộ liên tục tự nâng cấp và cân bằng năng lực với các agency được mời gọi có chọn lọc.

Unilever cũng là một điển hình. Họ vừa thông báo trong báo cáo hằng năm 2017 của mình rằng có tháng họ đã tiết kiệm được 30% chi phí cho agency sau khi tự sản xuất in-house nhiều quảng cáo hơn và giảm vai trò của các agency bên ngoài.

Xu hướng 3, xây dựng và tích luỹ giá trị thương hiệu. Xu hướng này cho thấy, việc nhìn nhận thương hiệu là yếu tố vô hình mạnh mẽ nhất tạo ra giá trị cho cổ đông và doanh nghiệp. Thương hiệu mạnh có tầm ảnh hưởng quan trọng đến kết quả kinh doanh & tác động tới nhiều bên liên quan. Thương hiệu lớn mạnh và kết quả kinh doanh cao có sự liên quan chặt chẽ.

Xu hướng 4, đo lường được hiệu quả các hoạt động truyền thông. Xu hướng này sẽ giúp giải phóng cho các hoạt động truyền thông, quảng bá thương hiệu khỏi sức ép của lợi nhuận và doanh thu, từ đó, doanh nghiệp cũng xác định cơ sở đánh giá hiệu quả dành cho các hoạt động truyền thông trong tương lai. Liên tục điều chỉnh hành vi thương hiệu dựa trên việc đánh giá và đo lường được hiệu quả các hoạt động truyền thông.

2.5. Giải pháp xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp Việt Nam

Để có thể xây dựng và quản trị hiệu quả thương hiệu, thời gian tới các DN Việt Nam cần chú trọng một số giải pháp sau:

Thứ nhất, định hình chiến lược chung xây dựng thương hiệu.

Khi xây dựng thương hiệu cũng cần xuất phát từ mục tiêu trước mắt và lâu dài. Vì thế, chiến lược thương hiệu cần gắn liền với chiến lược sản phẩm, gắn liền với chiến lược đầu tư và các kế hoạch tài chính của DN. DN cần đi từ thương hiệu cá biệt của hàng hoá hoặc ngược lại, đi từ thương hiệu chung của DN đến thương hiệu cá biệt cho từng hàng hoá.

Với chiến lược đi từ thương hiệu cá biệt đến thương hiệu chung hoặc vừa phát triển thương hiệu cá biệt, vừa phát triển thương hiệu chung là cách mà các DN lớn thường lựa chọn (chiến lược đa thương hiệu). Ưu điểm của cách này là khả năng tiếp cận thị trường nhanh, hạn chế được nguy cơ rủi ro từ một thương hiệu cá biệt không thành công và phát triển nhanh các thương hiệu khác nhờ một thương hiệu thành công, tuy nhiên để làm được điều này, DN cần cân đối nguồn lực, chi phí lớn để thực hiện.

Thứ hai, xây dựng ma trận SWOT, đánh giá tổng quan về DN trước khi đưa ra chính sách xây dựng thương hiệu. Cụ thể là khi xây dựng ma trận SWOT, DN cần nghiên cứu phân tích được những thuận lợi và khó khăn của mình để từ đó tìm ra hướng đi riêng phù hợp. Lý do để lựa chọn mô hình SWOT cần phù hợp, dễ thực hiện trong từng giai đoạn khác nhau và phù hợp với bất kỳ mô hình kinh doanh nào, nhất là đối với các DNNVV.

Thứ ba, nghiên cứu thị trường. Thông tin thị trường giữ vai trò quan trọng trong hoạt động marketing. Nghiên cứu thị trường nhằm nắm bắt được sự thay đổi nhu cầu, các  yếu tố tác động và  ảnh  hưởng đến nhu  cầu hiện tại và tương lai, có những nhu cầu nào khác sẽ xuất  hiện  và mong  ước cũng  như  niềm tin về thương hiệu trong tương lai biến đổi như thế nào. Các nội dung nghiên cứu thị trường liên quan đến thương hiệu có thể là: Nghiên cứu  môi trường kinh doanh (các biến không thể kiểm soát), nghiên cứu tác động marketing của doanh nghiệp đến với khách hàng (các biến có thể kiểm soát) và nghiên cứu đặc điểm hành vi của nhóm công chúng mục tiêu của thương hiệu. Các kết quả nghiên cứu thị trường như: mức  độ biết đến thương hiệu, các tiêu chuẩn lựa chọn thương hiệu, mức độ ưa thích thương hiệu...   sẽ đóng vai trò cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh  nghiệp  ra các quyết định  liên quan đến  thương hiệu.

Thứ tư, hoạch định chiến lược thương hiệu. Chiến lược thương hiệu là con đường mà doanh nghiệp vạch ra  để  đạt được mục tiêu  về thương hiệu của mình. Một chiến lược thương hiệu được xác định rõ và được thực hiện sẽ ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của doanh nghiệp và được kết  nối  trực  tiếp đến nhu cầu của người tiêu dùng, cảm xúc và môi trường cạnh tranh. Tiến trình hoạch định chiến lược thương hiệu được thực hiện  tuân  theo  tiến  trình hoạch định chiến lược cơ bản. Các quyết định về chiến lược thương  hiệu  như:  mở  rộng thương hiệu, mở rộng dòng sản phẩm hay sử dụng nhiều thương hiệu thường được xây dựng trong dài hạn (3 năm trở lên), bao gồm: Mục tiêu của thương hiệu trong từng năm; Nguồn lực cho thương hiệu trong từng năm; Kế hoạch tung sản phẩm mới ra thị trường theo từng năm.

Thứ năm, xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu. Hệ thống nhận diện thương hiệu là tập hợp những liên tưởng mà một doanh nghiệp  muốn đọng lại trong tâm tưởng của khách hàng thông qua sản phẩm (chủng loại, đặc tính, chất lượng và giá trị sản phẩm, cách sử dụng, người sử dụng và nguồn gốc sản phẩm), công ty (những giá trị văn hoá hay triết lý kinh doanh), con  người  (hình ảnh nhân viên, các mối quan  hệ bên trong và bên ngoài) và biểu tượng (tên gọi, logo,  khẩu hiệu, nhạc  hiệu,  hình tượng,  kiểu dáng và mẫu mã). Thành tố cơ bản của hệ thống nhận diện thương hiệu đó là cấu trúc      nền móng của thương hiệu, bao gồm:

- Các nhận biết cơ bản của thương hiệu (Brand Attributes): tên thương hiệu, logo, màu sắc, đặc điểm nhận dạng giúp thương hiệu đó khác với thương hiệu khác.

- Các lợi ích thương hiệu (Brand Benefits): là lợi ích thực tính, lợi ích cảm tính và lợi  ích cảm xúc của thương hiệu đó mang lại cho người tiêu dùng.

- Niềm tin thương hiệu (Brand Beliefs): Niềm tin nào chứng tỏ rằng thương hiệu sẽ mang lại lợi ích cho người dùng.

- Tính cách thương hiệu (Brand Personality): Tập hợp những nét đặc tính cảm  xúc  được dùng để định hình thương hiệu. Thương hiệu chính là con người. Giống như con người, thương hiệu cũng có các loại nhận thức và tính cách thương hiệu không  giống  nhau.  Cách ngắn nhất để  khách hàng biết đến tính cách thương hiệu là chủ động chuyển tải, cung cấp   thông tin của thương hiệu đến khách hàng.  Nghĩa  là  phải công bố tính cách  thương hiệu thay vì để khách hàng tự tìm đến, tự cảm nhận.

- Bản chất thương hiệu (Brand Essence): Là tóm tắt các yếu tố tạo sự khác biệt và đặc trưng, thường được sử dụng như slogan của thương hiệu.

Thứ sáu, truyền thông quảng bá thương hiệu. Do nhận thức của công chúng đối với một thương hiệu sản phẩm nào đó thường là một quá trình lâu dài, trong quá trình này hoạt động quảng cáo tuyên truyền giữ vai trò là chất xúc tác để thương hiệu trở nên nổi tiếng.

Thông qua hoạt động quảng bá, truyền thông và nỗ lực marketing, hình tượng thương hiệu DN được hình thành dựa trên sự cảm nhận, liên tưởng và nhận biết của khách hàng mục tiêu và công chúng. Một chiến lược truyền thông và marketing có hiệu quả sẽ đảm bảo sự cảm nhận trùng hợp giữa hình tượng thương hiệu do DN xây dựng với thương hiệu nhận biết bởi khách hàng mục tiêu.

Xây dựng và quản trị thương hiệu không phải là một hoạt động có thể hình thành trong một vài tuần/vài tháng hay vài năm. Thương hiệu, xét về bản chất, cũng giống như một con người, cần có sự chăm chút và tự nỗ lực vận động không ngừng để tồn tại/phát triển và khẳng định vị trí trong cộng đồng. Điều đó cũng lý vì sao, các thương hiệu mạnh/hàng đầu thường thuộc về những DN chú trọng nhiều nhất và chi tiết nhất đến hoạt động quản trị thương hiệu.

Việc xây dựng và quản trị thương hiệu là hoạt động đòi hỏi nhiều công sức và chi phí, tuy nhiên, có thể được thực thi dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của DN. Đặc biệt, đối với các DNVVN, nên chú ý tới các vấn đề sau:

- Các sản phẩm/dịch vụ bán hàng và sau bán hàng chính là biểu hiện trực tiếp rõ ràng nhất về thương hiệu DN. Dịch vụ sau bán hàng là điểm cốt lõi gây ấn tượng đối với khách hàng mục tiêu.

- Biến tất cả các nhân viên của công ty thành các chuyên gia quảng cáo và marketing: Mỗi nhân viên cần hiểu rõ về tiêu chí kinh doanh và sứ mệnh của DN. Mỗi thành viên phải trở thành một hình ảnh tiêu biểu cho công ty qua cách họ giới thiều về DN, trang phục và phong cách làm việc.

- Lập kế hoạch ngay khi có thể, không cần chờ đến đầu năm tài chính. Mỗi thời gian trôi qua là mỗi một cơ hội bị bỏ lỡ.

- Không bao giờ có cơ hội thứ 2 để gây ấn tượng đầu tiên. DN chỉ nên tham gia vào các hoạt động quảng bá/khuyếch trương/PR, khi đã có kế hoạch kỹ lưỡng và tổng thể.

- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia tư vấn. Hầu hết các hãng quảng cáo đang cộng tác thành công với DN đều sẵn lòng hỗ trợ DN trong lĩnh vực này.

3. KẾT LUẬN

 Các nhà thiết kế và quản lý nhãn hiệu hàng hoá luôn đứng trước một bài toán hóc búa: làm như thế nào để có thể xây dựng một thương hiệu thành công? Sẽ không có một lời giải duy nhất song một thông điệp mà doanh nghiệp không thể không luôn ghi nhớ: “khác biệt hay là chết”. Sự khác biệt không chỉ giúp người tiêu dùng phân biệt giữa các nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó trở thành người tiên phong trong lĩnh vực mà nó tạo ra sự khác biệt.

Con đường xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam chưa bao giờ hết gập ghềnh, nhưng đã bằng phẳng hơn rất là nhiều, khi nhận thức của các doanh nghiệp đang ngày càng được cải thiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Ngọc Anh (2018), 10 bí quyết xây dựng thương hiệu thành công cho doanh nghiệp nhỏ – con át chủ bài cho chiến lược marketing, phamngocanh.com

2. Hoàng Lệ Chi, Trần Thị Thập (2013), Giáo trình quản trị thương hiệu, Học viện bưu chính viễn thông.

3. Trần Việt Dũng (2019), Xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính online.

4. Thùy Linh (2018), Bài toán xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp nhỏ, Brandsvietnam.com

5. Hiền Mai (2018), 4 xu hướng xây dựng thương hiệu Việt Nam năm 2018, Vietnambiz.vn

6. Bùi Văn Quang (2015), Quản trị thương hiệu - Lý thuyết và thực tiễn, NXB Lao động - xã hội.


Bài viết khác