Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn nhân lực dân tộc thiểu số đề phát triển Kinh tế - xã hội ở các tỉnh phía Bắc hiện nay.

Phát huy nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em sinh sống trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 1/3 dân số cả nước; vùng miền núi – dân tộc thiểu số chiếm ¾ diện tích lãnh thổ nhưng lại là vùng có trình độ kinh tế - xã hội phát triển thấp và thua kém về cơ hội phát triển nên cần được ưu tiên trợ giúp và đầu tư về mọi mặt.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY

NGUỒN NHÂN LỰC DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN   KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC HIỆN NAY

TS. Nguyễn Thị Tùng[1],

TS. Nguyễn Kim Phượng[2]

Phát huy nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em sinh sống trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 1/3 dân số cả nước; vùng miền núi – dân tộc thiểu số chiếm ¾ diện tích lãnh thổ nhưng lại là vùng có trình độ kinh tế - xã hội phát triển thấp và thua kém về cơ hội phát triển nên cần được ưu tiên trợ giúp và đầu tư về mọi mặt. Do vậy, Đảng và Nhà nước chú trọng phát huy sức mạnh tổng lực của con người Việt Nam, trong đó, thực hiện bình đẳng và phát triển đối với các DTTS là mục tiêu và chính sách xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta nhằm giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, ổn định vững chắc những địa bàn xung yếu chiến lược của đất nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

1.Một số khái niệm cơ bản

1.1. Nguồn nhân lực

Cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về "nguồn nhân lực"[3] song về cơ bản, các khái niệm tương đối thống nhất rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động chủ chốt của một quốc gia hay một địa phương: (từ  những người lao động giản đơn, những người làm công việc chuyên môn, các nhà khoa học, các nhà quản lý, hoạch định chính sách đến các nhà kinh doanh, các chủ doanh nghiệp, các bác sĩ, các văn nghệ sĩ v.v) với năng lực thể chất và tinh thần, kỹ năng, kỹ xảo lao động, phẩm chất đạo đức đã và đang tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay địa phương đó.

Nguồn nhân lực được đặc trưng bởi hai yếu tố cấu thành. Đó là số lượng chất lượng nguồn nhân lực. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực là phát triển số lượng và phát triển chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó phát triển chất lượng nguồn nhân lực (năng lực thể chất và tinh thần; trình độ, tri thức và năng lực thực tiễn; kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức v.v) có ý nghĩa quyết định đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta.

Một trong những quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 19-4-2011 là "phát triển nhân lực toàn diện, gồm những yếu tố thể lực, tri thức, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trị, xã hội theo yêu cầu phát triển toàn diện con người và phát triển đất nước bền vững".

Thực tiễn chỉ ra rằng trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và kinh tế tri thức, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia, các nền kinh tế, thuộc về những nước có nguồn nhân lực được đào tạo một cách có hệ thống, một nguồn nhân lực chất lượng cao - tức là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế, có kỹ năng lao động giỏi, có đạo đức nghề nghiệp, có khả năng đáp ứng một cách tốt nhất quá trình sản xuất xã hội để đạt tới sự phát triển nhanh và bền vững.

1.2. Dân tộc thiểu số

DTTS là một khái niệm được sử dụng tương đối phổ biến trên thế giới. Hiện nay thuật ngữ này có nhiều cách hiểu khác nhau, điều này tùy theo từng bộ môn nghiên cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia.

Năm 1992, Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua “Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc hay chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ”, trong đó có thống nhất thuật ngữ DTTS bằng cách dựa trên quan điểm mà Gs. Francesco Capotorti (đặc phái viên của Liên Hợp Quốc) đã đưa ra vào năm 1977: DTTS là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người gồm những đặc điểm cơ bản sau: Một là, cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này;Hai là, duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; Ba là, thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; Bốn là, đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; Năm là, có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ.

Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được hiểu khá thống nhất trong các văn bản nhà nước. Cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam nêu rõ:  DTTS là dân tộc có số dân ít (có thể là hàng trăm, hàng ngàn và cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân đông, trong các quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: Ý thức về tổ quốc chung và ý thức về dân tộc mình. Những DTTS có thể cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn khó khăn. Vì vậy, các nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, nhằm xóa bỏ dần những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế - xã hội giữa dân tộc đông người và các DTTS[4]

Như vậy khái niệm DTTS chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm DTTS không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc mà chủ yếu là nói đến sự tương quan về mặt số lượng dân cư của dân tộc đó so với cả nước.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cả nước có 85.846.997 người, trong đó người Kinh chiếm 86,25%, 53 dân tộc người còn lại chiếm 13,75%.

Một dân tộc chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số dân tộc đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương. Bởi vì một dân tộc thiểu số nào đó (của cả nước) nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường hợp người Thái ở Sơn La, Lai Châu hay người Nùng ở Lạng Sơn…

Khái niệm DTTS cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác. Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là DTTS ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 DTTS của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là DTTS ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 DTTS của Việt Nam).

Trong xu thế phát triển chung của đất nước, các DTTS ở Việt Nam hiện nay cũng đang có những chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đó, các DTTS vẫn mang trong mình những dấu ấn rất đặc trưng. Những dấu ấn này có tác động không nhỏ tới việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các DTTS cũng như tới hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội khu vực này.

1.3. Phát huy nguồn nhân lực dân tộc thiểu số

Theo Từ điển tiếng Việt, “Phát huy” là tạo điều kiện và làm cho cái tốt, cái đẹp, cái hợp lý… tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở, phát triển thêm. Theo cách hiểu này thì phát huy nguồn nhân lực là phát huy tất cả các khả năng, năng lực, trí tuệ và phẩm chất tinh thần của con người, là nâng cao vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm tăng những giá trị đích thực và ý nghĩa lớn lao của nguồn lực này.

Phát huy nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, được biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc; nhờ vậy mà phát triển được năng lực của họ, ổn định được công việc làm ăn, nâng cao địa vị kinh tế - xã hội và cuối cùng là đóng góp cho phát triển.

Phát huy nguồn nhân lực thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng tựu chung lại là phát huy trên ba mặt cơ bản: phát triển nguồn nhân lực, sử dụng khai thác nguồn nhân lực và tạo môi trường nuôi dưỡng cho nguồn nhân lực. Điều đó liên quan đến hàng loạt vấn đề từ việc nuôi dưỡng, giáo dục - đào tạo đến việc tổ chức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực; từ việc phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân đến việc tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự cống hiến và hưởng thụ của con người; từ việc nâng cao năng lực và phẩm chất của người lao động với tư cách là chủ thể nhận thức và hoạt động thực tiễn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đến khâu khai thác hợp lý, có hiệu quả trí lực, thể lực, tâm lực của họ với tư cách là khách thể của sự khai thác; từ việc sử dụng con người với tư cách là một nguồn lực, động lực cho sự phát triển đến việc chăm lo cho con người với tư cách là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Phát huy nguồn nhân lực DTTS là việc tạo điều kiện cho các yếu tố về khả năng, năng lực, trí tuệ và phẩm chất tinh thần của con người DTTS được huy động và phát triển, là sử dụng khai thác và tạo môi trường thuận lợi để nguồn nhân lực này có điều kiện phát huy hết khả năng, năng lực của mình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Thực chất, phát huy nguồn nhân lực DTTS là quá trình tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực DTTS nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Số lượng và chất lượng luôn gắn bó với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Về mặt số lượng là tăng nguồn lao động DTTS. Chất lượng bao gồm sức khoẻ, trình độ chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân. Phát huy nguồn nhân lực DTTS đáp ứng sự nghiệp đổi mới đất nước bao gồm các lĩnh vực như nâng cao chất lượng dân số, giáo dục - đào tạo, đảm bảo sức khoẻ, dạy nghề, tạo việc làm, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực DTTS, khơi dậy những khả năng về năng lực vật chất và năng lực tinh thần của người DTTS, hoàn thiện cả về đạo đức, tay nghề và tâm hồn của họ.

Như vậy, phát huy nguồn nhân DTTS là quá trình nâng cao vai trò của nguồn lực này, qua đó làm tăng giá trị con người DTTS trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình đó không chỉ chịu tác động trực tiếp bởi chính năng lực chủ quan mà cả yếu tố khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của họ.

2. Một số vấn đề cần quan tâm trong việc phát huy nguồn nhân lực dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế- xã hội ở các tỉnh phía Bắc hiện nay 

Thứ nhất, về chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số

Chất lượng nguồn nhân lực DTTS thể hiện tổng hoà nhiều yếu tố, song khái quát lại có thể đánh giá ở 3 khía cạnh chủ yếu là: Trí lực, thể lực và phẩm chất đạo đức tinh thần.

- Về trí lực: Trí lực của nguồn nhân lực DTTS thể hiện ở trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật.

Nguồn nhân lực DTTS có trình độ học vấn ở mức khá thấp so với mặt bằng chung của cả nước: Số người không biết chữ chiếm tỷ trọng cao. Trong những năm gần đây, trình độ học vấn của nguồn nhân lực DTTS nói riêng đang từng bước được nâng lên. Tỷ trọng nhóm người có trình độ học vấn cao (tốt nghiệp trung học phổ thông) tăng 2,7 lần về số lượng tuyệt đối (từ 10.893 người năm 2005 lên 29.242 người năm 2010) và tăng gần 2,04 lần về tỷ trọng (từ 6,72% năm 2005 lên 13,7% năm 2010), còn tỷ trọng nhóm người có trình độ học vấn thấp (chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học) giảm từ 67,6% năm 2005 xuống còn 56,71% năm 2010.

Về trình độ chuyên môn - kỹ thuật của nguồn nhân lực DTTS tăng nhanh trong giai đoạn 2006 - 2010, theo đó tỷ trọng lao động qua đào tạo trong tổng lao động đang làm việc trong nền kinh tế tăng nhanh từ 10,14% năm 2005 lên 30% năm 2010. Tuy nhiên, từ kết quả này cũng cho thấy chất lượng nguồn nhân lực DTTS thấp hơn mức trung bình của cả nước cả về đào tạo nghề và qua đào tạo nói chung.

Như vậy đội ngũ lực lượng lao động DTTS tính đến hết năm 2010 về cơ bản chưa qua đào tạo chuyên môn - kỹ thuật còn cao (gần 70%), cơ cấu chuyên ngành đào tạo, chưa được cân đối so với nhu cầu của địa phương, một số chuyên ngành còn thiếu trầm trọng như ngành y, thợ kỹ thuật, chuyên gia quản lý kinh tế bậc cao... Trình độ chuyên môn - kỹ thuật của đa số lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng được hình thành trong quá trình phát triển của ngành, song chất lượng hoạt động khá hạn chế, do chưa được đào tạo bài bản; kỹ năng và kỷ luật lao động chưa tốt, thiếu tính ổn định, chưa gắn bó với doanh nghiệp. Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hoạt động chủ yếu bằng kinh nghiệm và thói quen, ít được tiếp cận các thông tin về khoa học kỹ thuật mới để ứng dụng trong sản xuất nên NSLĐ thấp. Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ - thuật cao chủ yếu nằm ở các ngành như: giáo dục, y tế và quản lý nhà nước, thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở các ngành điện tử, tin học, công nghệ chế biến... Hiện trạng về nhân lực DTTS đang đặt ra những thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng DTTS cả hiện tại và trong dài hạn

- Về thể lực: Hiện nay, thể lực của nguồn nhân lực DTTS đã được tăng lên do đời sống vật chất ngày càng được nâng lên rõ rệt.

Các chính sách về y tế đối với người DTTS được quan tâm, chú trọng như: Chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo DTTS, cấp thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh cho người DTTS ở vùng đặc biệt khó khăn…Hệ thống y tế ở vùng DTTS đã được kiện toàn, 100% các xã đều có trạm y tế thực hiện các chương trình y tế quốc gia. Trong đó có 66,3% trạm y tế được xây dựng kiên cố và 33,7% trạm đạt chuẩn quốc gia. 100% đồng bào DTTS được cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí.

Thứ hai, về  tư tưởng đạo đức và đời sống văn hóa tinh thần của nguồn nhân lực DTTS

Chất lượng nguồn nhân lực DTTS còn được biểu hiện đời sống tư tưởng, văn hóa, đạo đức, tác phong lối sống và lao động của họ. Đại bộ phận lao động DTTS có tinh thần tự hào dân tộc, biết vượt qua khó khăn, thử thách biết vươn lên trong cuộc sống, thoát khỏi đói nghèo lạc hậu; giữ vững truyền thống quê hương, bản sắc văn hóa dân tộc. Họ chủ động học hỏi, trang bị kiến thức cho bản thân, tự giác rèn luyện đạo đức, tham gia tích cực, chủ động vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các DTTS có lòng tin vào chủ trương, chính sách, pháp luật Đảng và Nhà nước.

Người DTTS có nhiều lễ hội, phong tục mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần, gắn kết cộng đồng, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, làm nên nét bản sắc độc đáo về văn hóa, truyền thống của người DTTS. Điều đó góp phần làm cho đời sống tinh thần nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực DTTS về đời sống tinh thần còn được sự quan tâm từ các cấp, các ngành trong tỉnh, với rất nhiều các chính sách, hoạt động thiết thực, hệ thống tuyên truyền, truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng… đã góp phần nâng cao tâm lực, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, tinh thần cho nguồn nhân lực DTTS.

Thứ ba, về các chính sách xã hội với việc phát huy nguồn nhân lực DTTS

Dù còn rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên với đặc thù là tỉnh vùng cao biên giới, nơi sinh sống chủ yếu của nhiều DTTS, do vậy vấn đề thực hiện các chính sách dân tộc đặc biệt là các chính sách phát triển nguồn nhân lực được tỉnh hết sức quan tâm. Hầu hết các cấp các ngành trong các tỉnh đều nhận thức rất rõ vai trò của vấn đề phát huy nguồn nhân lực DTTS. Do đó, việc triển khai và thực hiện các chính sách này tương đối đồng bộ và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Bên cạnh các chính sách tác động trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực DTTS như: chính sách giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết việc làm…, việc thực hiện các chính sách xã hội khác như: chính sách XĐGN, xây dựng cơ sở hạ tầng, … đã được các tỉnh thực hiện nghiêm túc, bước đầu mang lại những kết quả tích cực. Trong các chính sách đó, phải kể đến hiệu quả từ việc thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững và thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo của cả nước. Đây là những chính sách có tác động rất lớn tới đời sống đồng bào DTTS vùng đặc biệt khó khăn. Cụ thể:

Thực hiện Quyết định 134 và Quyết định số 167 của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương có đồng bào DTTS đã thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ thiết thực như: hỗ trợ làm nhà ở các hộ nghèo xoá nhà tranh tre, dột nát; gây quỹ vì người nghèo đã hỗ trợ tích cực cho các hộ nghèo ổn định cuộc sống yên tâm làm ăn với phương châm “3 cứng”: Mái cứng (mái nhà lợp ngói hoặc tấm lợp Prô-xi măng); tường cứng (tường xây, ốp ván gỗ hoặc toóc xi); nền cứng (nền nhà lát gạch hoặc láng xi măng); tín dụng ưu đãi cho người nghèo thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo, người DTTS vay vốn phát triển sản xuất, xây dựng nhà ở…

Công tác giáo dục – đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng được chú trọng với nhiều chính sách như: Chính sách hỗ trợ cho trẻ em 5 tuổi theo quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015; chính sách phát triển giáo dục đối với các dân tộc ít người giai đoạn 2010 - 2015 theo Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ; miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg ngày 14/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách đào tạo cử tuyển; chính sách đào tạo nghề cho nhân lực DTTS…

Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện các chính sách xã hội đối với đồng bào các DTTS vẫn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Những kết quả đạt được chưa làm thay đổi nhiều đời sống đồng bào. Tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao so với khu vực và cả nước. Tỷ lệ hộ tái nghèo sau khi các dự án kết thúc vẫn tương đối lớn. Đặc biệt, đối với nhóm các dân tộc đặc biệt khó khăn, chậm phát triển của tỉnh việc hấp thụ các chính sách xã hội còn rất hạn chế, chính vì vậy mà tỷ lệ hộ nghèo thuộc nhóm này còn ở mức rất cao. Lấy một ví dụ ở Lai Châu: chỉ tính riêng 3 dân tộc La Hủ, Mảng, Cống cho thấy đa số đồng bào đang sống dưới chuẩn nghèo giai đoạn 2005 - 2010 (dưới 200.000 đ/người/tháng); tổng số hộ đói, nghèo thuộc 3 dân tộc này chiếm tới 78 % cao gấp từ 2 - 3 lần so với bình quân chung của tỉnh Lai Châu, gấp từ 1,3 - 2,1 lần so với bình quân các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh (36,98%). Đói nghèo đang có những tác động vô cùng to lớn tới chất lượng sống và chất lượng nguồn nhân lực các DTTS ở các tỉnh phía Bắc hiện nay.

3. Phát huy nguồn nhân lực DTTS để phát triển kinh tế- xã hội ở các tỉnh phía Bắc hiện nay  – Một số giải pháp cơ bản

Cả lý luận lẫn thực tiễn đều khẳng định rằng, trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn lực con người luôn luôn giữ vai trò quyết định. Tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[5]. Gần đây trong Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 19 tháng 4 năm 2011 cũng khẳng định “phát triển nhân lực trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011- 2020 phát huy vai trò quyết định của yếu tố con người, phát triển nhân lực là khâu đột phá để thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”. Điều này cho phép chúng ta khẳng định, phát huy nguồn lực con người là đòi hỏi khách quan, là khâu đột phá, là nhân tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội. Để phát huy nguồn lực con người, để nguồn lực con người thực sự trở thành động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng núi phía Bắc phát triển, trước mắt chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đổi mới nhận thức về phát triển, sử dụng, quản lý nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực DTTS nói riêng.

Để thực hiện giải pháp này, trước hết phải quán triệt sâu sắc quan điểm coi con người là nền tảng, là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước. Từ trong chiều sâu của lịch sử, nhân loại đã từng coi "con người là thước đo của mọi vật" (Prothagore). Tại Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: "con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển". Với ý nghĩa đó, đòi hỏi chúng ta, trước hết là các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương - phải thực sự coi trọng con người, tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của con người, tạo điều kiện tốt nhất để con người phát triển, đặc biệt là môi trường dân chủ.

 Một trong những yêu cầu của đổi mới nhận thức về phát triển nguồn nhân lực là phải coi trọng hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực. Trước đây nhiều lúc chúng ta thường chú trọng về mặt số lượng, quan tâm không đúng mức đến chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, khi nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng thu hẹp, thì vấn đề phát triển chất lượng nguồn nhân lực phải được đặt lên hàng đầu - nhất là nhân lực công nghệ thông tin; nhân lực khoa học và công nghệ.

Cùng với phát triển nguồn nhân lực là vấn đề sử dụng, quản lý nguồn nhân lực của đất nước. Thực tiễn cho thấy, nếu nguồn nhân lực được sử dụng đúng, quản lý tốt, biết phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo… sẽ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Trong "Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020”, Chính phủ ta khẳng định "Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô, định hướng, dẫn dắt bằng hệ thống khung khổ pháp lý và chính sách khuyến khích phát triển nhân lực". Một trong những giải pháp lớn của chiến lược này là "sử dụng, đánh giá đãi ngộ nhân lực phải dựa vào năng lực thực và kết quả, hiệu quả công việc. Khắc phục tâm lý và hiện tượng quá coi trọng và đề cao "bằng cấp" một cách hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực". Có như vậy chính sách "trọng dụng nhân tài" mới được hiện thực hóa, chúng ta không để lãng phí chất xám, lãng phí nguồn nhân lực. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có 63% số sinh viên ra trường không có việc làm. Trong số 37% có việc làm thì phần lớn phải đào tạo lại hoặc làm không đúng chuyên môn đào tạo. Điều đó cho thấy sự lãng phí rất lớn về nguồn nhân lực và nguồn vốn đào tạo nhân lực hiện nay ở nước ta[6].

Thứ hai, đổi mới và hoàn thiện các cơ chế chính sách xã hội nhằm phát huy nguồn nhân lực DTTS

- Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số để phát huy nguồn nhân lực

Để đáp ứng cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng, của địa phương và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực DTTS không những chỉ cần có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn cần có một thể chất tốt. Vì vậy, việc nâng cao thể chất cho nguồn nhân lực DTTS là một vấn đề cấp thiết đặt ra. Để giải quyết tốt vấn đề này, trước hết cần tập trung củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế, đặc biệt là y tế cơ sở; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu; nâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ y tế; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật y tế cho vùng DTTS; thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm y tế, chính sách hỗ trợ về chăm sóc sức khỏe đối với người nghèo, vùng nghèo, vùng DTTS; có chế độ chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích cán bộ y tế ở vùng, đặc biệt, nâng cao trình độ tăng cường trách nhiệm, quyền lợi cho y tá thôn, bản nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng. Tăng cường tuyên truyền bằng những hình thức phù hợp với người DTTS.

- Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực DTTS

Để giáo dục hoàn thành sứ mệnh của mình, trước mắt cần "đổi mới quản lý" giáo dục - coi đó là khâu đột phá để phát triển giáo dục - trong đó chú ý xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ làm cơ sở triển khai thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục; đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện thống nhất đầu mối quản lý và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục. Đồng thời "phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục" vì đây là yếu tố quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Ngoài ra phải chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục; kết hợp đào tạo với sử dụng, nghiên cứu khoa học với chuyển giao công nghệ; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục.

Đối với vùng DTTS, trước hết cần tập trung phát triển giáo dục toàn diện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đối với đồng bào DTTS và vùng đồng bào DTTS. Tạo bước chuyển cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng phục vụ thiết thực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, vai trò của ngành Giáo dục và đào tạo để phát triển sự nghiệp giáo dục, đặc biệt sự nghiệp giáo dục vùng DTTS. Làm tốt công tác tuyên truyền về giáo dục và đào tạo đến đồng bào. Có chính sách phát triển giáo dục - đào tạo đối phù hợp với từng cấp học, bậc học và phù hợp với đặc thù vùng DTTS.

- Tăng cường tạo điều kiện lao động và môi trường sống đảm bảo cho người DTTS.

Điều kiện và môi trường làm việc của lao động  DTTS hiện nay chưa được đảm bảo ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tâm lý lao động của họ. Do đó, Nhà nước và chính quyền các địa phương có đồng bào DTTS cần có sự quan tâm đặc biệt đến việc tạo điều kiện lao động thuận lợi như: Xây dựng cơ sở hạ tầng, áp dụng việc cơ giới hoá, khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm giảm lao động sức người. Chính quyền xã và các đoàn thể cơ sở cần tích cực tuyên truyền trang bị kiến thức cần thiết về bảo hộ lao động cho người lao động trong quá trình lao động, sản xuất.

Đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra việc thực hiện các chính sách đối với lao động DTTS, đặc biệt là các chế độ liên quan đến bảo hiểm xã hội. Công tác an toàn, vệ sinh lao động ở các doanh nghiệp cần được đưa thành một tiêu chuẩn đối với việc thành lập hoặc mở rộng sản xuất, đặc biệt chú ý ở các doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động DTTS. Nâng cao nhận thức cho lao động DTTS về quyền và trách nhiệm đối với bảo vệ sức khỏe và thực hiện các quy định về bảo hộ lao động.

- Thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo, từng bước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với đặc trưng vùng dân tộc thiểu số. Muốn vậy, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: (1) nâng cao năng lực XĐGN cho cán bộ và đồng bào DTTS. (2) Tiếp tục xây dựng các mô hình XĐGN bền vững phù hợp với điều kiện từng tiểu vùng sinh thái, trình độ kinh tế - xã hội và phong tục tập quán canh tác của từng dân tộc. Kịp thời tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình tiên tiến, đạt hiệu quả lao động, sản xuất cao, tích cực hỗ trợ để hình thành các cơ sở sản xuất kinh doanh, khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống tiểu thủ công nghiệp ở các thôn, bản để giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động. (3) khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm thu hút, sử dụng tối đa lao động của tỉnh đã được đào tạo, nhất là số sinh viên đã tốt nghiệp của tỉnh. Đây là lực lượng lao động có trình độ, có khả năng tham gia có hiệu quả vào công tác XĐGN của tỉnh. (4) Quá trình CNH, HĐH ở vùng đồng bào DTTS cần lưu ý đến tính đặc thù không được tách rời yếu tố môi trường sinh thái, điều kiện cảnh quan nơi cộng đồng đó cư trú; chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình CNH, HĐH ở vùng đồng bào DTTS cũng cần chú ý đến đặc thù của từng vùng, từng dân tộc; cần coi trọng nhiều hơn đến giá trị, đặc biệt là giá trị bản địa hơn là chạy theo số lượng, nhất là đối với các nghề truyền thống như thêu, dệt thổ cẩm, sản xuất rượu cần, các loại lúa nương v.v. Có như vậy chúng ta vừa giữ được bản sắc văn hóa vừa góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển.

Thứ ba, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhân lực. Để phát huy nguồn nhân lực, để nhân lực Việt Nam nói chung, nhân lực dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc nói riêng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một trong những giải pháp quan trọng là phải huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhân lực.

Trước hết là phải tăng đầu tư của Nhà nước cho phát triển nhân lực - nhất là đầu tư cho giáo dục, cho y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Phải quán triệt sâu sắc và hiện thực hóa quan điểm của Đảng: đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nhanh, bền vững. Đảm bảo tỷ trọng chi cho giáo dục, đào tạo ở mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước.

Đẩy mạnh xã hội hóa để phát triển nhân lực - nhất là trong lĩnh vực đào tạo - trước hết là huy động nguồn vốn xã hội cho giáo dục - đào tạo. Vừa qua đóng góp của người dân cho giáo dục ở Việt Nam tương đối cao, khoảng 40%, trong lúc đó ở Mỹ, con số này là 26%, ở Pháp là 11,2%, Trung Quốc khoảng 20%[7].

Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo nhân lực với các hình thức khác nhau, nhất là việc thành lập cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp, nhu cầu xã hội.

Tăng cường đàm phán, vận động và xúc tiến đầu tư để thu hút các nguồn vốn từ ngoài nước, như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn viện trợ chính thức và tài trợ của các tổ chức, cá nhân người nước ngoài, vốn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài v.v.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là một chiến lược toàn diện bao quát phạm vi rộng lớn trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội. Để thực hiện thành công chiến lược này đòi hỏi có sự tham gia tích cực của tất cả các cấp, các ngành, của mọi người dân. Động viên mọi nguồn lực, trong đó phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố đảm bảo và là khâu đột phá cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Thứ tư, thực hiện tốt công tác bố trí, đào tạo, sử dụng cán bộ công chức tại các xã miền núi, vùng đồng bào DTTS.

Thực hiện tốt công tác bố trí, đào tạo, sử dụng cán bộ công chức tại các xã miền núi, trước hết triển khai thực hiện tốt Quyết định số 08/2011/QĐ-TTg ngày 26/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường cán bộ cho các xã thuộc huyện nghèo để thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 26/01/2011 về phê duyệt Dự án thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thuộc 62 huyện nghèo.

Đối với sinh viên đào tạo theo hệ cử tuyển tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trong cả nước, sau khi hoàn thành khóa học tỉnh cần sắp xếp, bố trí việc làm kịp thời, hợp lý đúng chuyên môn đào tạo. Đây chính là những hạt nhân quan trọng trong công tác phát triển nguồn nhân lực DTTS ở các tỉnh phía Bắc  hiện nay. Bên cạnh đó cần chú ý công tác đào tạo lại các cán bộ cơ sở người DTTS nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ trong tình hình mới, có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm khích lệ cán bộ cơ sở, đặc biệt là vùng khó khăn yên tâm công tác, cống hiến.

Thứ năm, có chính sách khuyến khích các hoạt động đào tạo nghề truyền thống

Ở vùng dân tộc và miền núi, các ngành, nghề truyền thống khá phong phú, không ít sản phẩm tiểu thủ công nghiệp thể hiện sự tinh tế, tính thẩm mỹ cao, mang sắc thái của địa phương gắn liền với đặc trưng dân tộc, góp phần tạo nên một nền văn hoá Việt Nam truyền thống đa dạng như: Nghề dệt thổ cẩm, thêu ren, nghề đan lát, mỹ nghệ dân tộc, chế biến nông - lâm sản... Các ngành, nghề truyền thống đó cần được đầu tư phát triển đủ sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập, phục vụ cho các hoạt động thương mại, du lịch, quảng bá văn hoá tại các vùng đồng bào DTTS.

Đất nước ta đang đẩy mạnh tốc độ CNH, HĐH, trước hết chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, ra sức phấn đấu để đến năm 2020 nước Việt Nam sẽ thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Trong tiến trình đi tới mục tiêu đó, nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS cần đạt được sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng về nhiều mặt, trong đó việc khôi phục và phát triển các ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp phải có sự quan tâm đặc biệt của các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương. Cần có chính sách hợp lý tạo môi trường thuận lợi và cơ chế phù hợp cho ngành, nghề của các DTTS phát triển. Từng bước làm cho sản phẩm ngành, nghề truyền thống của các DTTS trở thành sản phẩm hàng hoá tiếp cận với thị trường trong nước và thế giới.

Thứ sáu, xuất khẩu lao động là một trong những hướng đi đúng để giải quyết việc làm cho nguồn nhân lực DTTS của tỉnh hiện nay.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền về công tác xuất khẩu lao động. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần quán triệt sâu sắc chỉ thị số 41/CT-TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia; Nghị định số 18/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Coi công tác xuất khẩu lao động là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và là hướng đi hiệu quả giải quyết việc làm cũng như thu nhập cho nguồn nhân lực DTTS.

Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, đặc biệt vùng đồng bào DTTS về công tác xuất khẩu lao động thông qua các cơ quan thông tin đại chúng, thông báo công khai về thị trường lao động, số lượng, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện làm việc và sinh hoạt, quyền lợi, trách nhiệm của người lao động và các khoản chi phí phải nộp; phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các thông tin thất thiệt, làm thiệt hại đến người lao động.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp được phép tuyển lao động trên địa bàn tỉnh. Phân công các ngành thành viên Ban chỉ đạo theo từng nhiệm vụ, công việc, cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các tổ chức đoàn thể, hội quần chúng và các huyện, thành phố để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xuất khẩu lao động của địa phương.

Đối với những doanh nghiệp tổ chức thực hiện tư vấn, tuyển chọn và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài chất lượng tốt, hiệu quả cao, đảm bảo chế độ quyền lợi cho người lao động thì cho mở rộng địa bàn tuyển chọn. Đối với những doanh nghiệp không đủ năng lực, hoạt động kém hiệu quả, không đảm bảo chế độ quyền lợi cho người lao động thì dừng hoạt động xuất khẩu lao động.

Mở rộng thị trường ở các nước như: Mỹ, Đài Loan, Quata, Nhật Bản, Hàn Quốc... để người lao động lựa chọn nước đến làm việc, phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của mình.

Thứ bảy, đổi mới chính sách sử dụng lao động người dân tộc thiểu số; giải quyết tốt việc làm phù hợp đặc điểm lao động người dân tộc thiểu số

- Cần gắn kết chiến lược phát triển nhân lực và kinh tế là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển nguồn nhân lực DTTS. Đối DTTS hiện nay, cần đặc biệt qua tâm xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo, phát triển nhân lực (giữa các đơn vị hành chính, sự nghiệp với Sở Nội vụ, giữa doanh nghiệp với các trường cao đẳng, trung cấp, cơ sở dạy nghề…) để tìm sự thống nhất giữa cung và cầu lao động, hạn chế đến mức thấp nhất sự lãng phí trong phát triển nhân lực của cá nhân, tổ chức và xã hội. Đồng thời, tăng cường sự chủ động, sáng tạo của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong công tác phát triển nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực DTTS, bởi đa số nguồn nhân lực này còn hạn chế về định hướng nghề nghiệp.

- Phát huy nguồn nhân lực các DTTS trước hết phải tôn trọng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, của thị trường lao động, sau đó, phải đảm bảo thị trường phát triển đúng định hướng, cạnh tranh bình đẳng, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người lao động đều được giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe và có việc làm, có thu nhập, nâng cao đời sống. Do vậy, các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực DTTS phải hướng theo nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh cho người lao động để họ có nhiều cơ hội phát triển. Quá trình phát huy nguồn nhân lực các DTTS ở các tỉnh phía Bắc cũng phải tuân theo những quy luật chung đó.

- Giải quyết tốt việc làm phù hợp đặc điểm lao động người DTTS

Hiện nay, ở đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc kinh tế nặng về nông nghiệp, sản xuất hàng hóa nhỏ, công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp chưa phát triển. Nhóm ngành phi nông nghiệp phân bố và phát triển không đều, chỉ tập trung chủ yếu ở các huyện, thị xã, còn ở vùng sâu, vùng xa hầu như không phát triển, vì thế, nông nghiệp nông thôn hiện vẫn đang thu hút phần lớn nguồn nhân lực DTTS. Việc sử dụng lao động là người DTTS hiện nay ở các thành phần kinh tế không đáng kể, nguồn nhân lực này chủ yếu tập trung trong kinh tế hộ gia đình. Ngoài ra, được phân bố ở một số doanh nghiệp nhà nước cần số lượng lớn lao động giản đơn,.

Vì vậy để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển bớt lao động nông nghiệp sang ngành nghề khác, trước hết cần gấp rút xây dựng kế hoạch để đào tạo lực lượng lao động này. Phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Khôi phục phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống như: dệt thổ cẩm, đan lát v.v..; xây dựng và hoàn thiện các công trình thủy điện. Ngoài ra, có chính sách khuyến khích, kêu gọi các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực DTTS (không chỉ sử dụng lao động trong công việc giản đơn, nặng nhọc...) để khai thác và sử dụng hết lao động tại chỗ nhằm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập ổn định đời sống cho đồng bào các DTTS trong tỉnh

Thứ tám, nâng cao tính tích cực xã hội của người dân tộc thiểu số, xác lập đồng bộ cơ chế thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm nâng cao quyền làm chủ của dân tộc thiểu số

- Để phát huy hơn nữa tính tích cực xã hội của người DTTS hiện nay, các cơ quan Đảng, Nhà nước cần làm tốt hơn nữa vấn đề xây dựng quy chế thực hiện và phát huy dân chủ cơ sở để khơi dậy tối đa nguồn lực DTTS. Đồng bào DTTS có kinh tế - xã hội chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, cùng với phong tục tập quán lạc hậu nên việc thực hiện quy chế dân chủ ở vùng cao, vùng sâu gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, Nhà nước cần tập trung giải quyết việc xoá bỏ cơ chế cũ chuyển sang cơ chế khoán sản phẩm, giao đất, giao rừng cho nông dân đã góp phần tạo nên tư duy kinh tế năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, ý thức chủ động, cơ hội tranh thủ làm giàu của người dân tăng lên. Yêu cầu trọng tâm của việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là đưa đồng bào DTTS tham gia vào quản lý kinh tế - xã hội, bản thân họ phải được bàn bạc trực tiếp khi quyết định những công việc của chính họ như: chủ trương xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở (điện, đường, trường học, các công trình văn hoá, thể thao...).

Nâng cao tính tích cực xã hội của người DTTS còn thể hiện ở việc phát huy vai trò của các chủ thể trong cộng đồng xã hội đặc biệt là phát huy vai trò của già làng, trưởng bản. Đây là những thành viên có vị trí rất quan trọng đối với cộng đồng, là cầu nối quan trọng giữa giữa Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội với người dân. Nhà nước cần có các chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với đội ngũ này, đồng thời tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cả về lý luận lẫn trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn cho họ. Đây thực sự là những nhân tố tích cực, có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy nguồn nhân lực DTTS cũng như trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS giai đoạn hiện nay.

- Việc xác lập đồng bộ cơ chế thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm nâng cao quyền làm chủ của DTTS phải trên cơ sở thực hiện nhất quán nguyên tắc trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước: "Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ"[8] Đồng bào các DTTS cũng như đa số đều có đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể chế chính trị mới, phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở các vùng DTTS.

- Xây dựng gia đình văn hóa, xóa bỏ những tập tục lạc hậu, tạo điều kiện cho người dân tộc thiểu số phát huy khả năng trong hoạt động kinh tế - xã hội

Xây dựng Gia đình văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược xây dựng con người, xây dựng xã hội văn minh hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Gia đình phát triển bền vững không chỉ là niềm hạnh phúc cho mỗi người, mỗi nhà mà còn là nhân tố quan trọng góp phần giữ gìn sự phát triển lành mạnh, an toàn của xã hội và sự ổn định dân số của mỗi quốc gia. Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách[9] góp phần chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính[10].

Đối với DTTS, có thể nói phong trào xây dựng gia đình văn hóa vừa là sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình truyền thống, vừa đấu tranh loại bỏ những phong tục lạc hậu, tập quán bảo thủ đang tồn tại trong đời sống đồng bào, mặt khác còn là sự tiếp thu những giá trị văn hóa mới, tiên tiến.

Hiện nay, tại khu vực đồng bào DTTS các tỉnh phía Bắc, các hủ tục ma chay, cưới xin, khám chữa bệnh bằng các phương pháp mang tính mê tín, dị đoan vẫn còn tồn tại khá phổ biến. Điều này tác động rất lớn tới chất lượng nguồn nhân lực DTTS. Quan niệm sinh nhiều con, quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại dai dẳng trong tư tưởng một bộ phận không nhỏ đồng bào DTTS. Sự tồn tại của những tư tưởng này sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số. Vì vậy, việc xây dựng gia đình văn hóa cũng sẽ góp phần xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, tạo môi trường giáo dục quan trọng, nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần của các thành viên trong gia đình, thực hiện XĐGN và vươn lên làm giàu chính đáng, do đó đây là giải pháp quan trọng để phát huy nguồn nhân lực DTTS.

Với những tiềm năng hiện có của nguồn nhân lực các DTTS như cơ cấu dân số trẻ, phẩm chất cần cù, ham học hỏi, truyền thống văn hoá phong phú, đa dạng… thì vấn đề cơ bản đặt ra hiện nay là phải khai thác và phát huy được những yếu tố tích cực của nguồn nhân lực các DTTS, hướng nó vào “quỹ đạo” của công cuộc CNH-HĐH đất nước bằng những giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ và có hiệu quả. Nguồn nhân lực DTTS chỉ thực sự phát triển khi được đào tạo, bồi dưỡng sử dụng và đãi ngộ phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động DTTS phát triển cả về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, phát triển hài hòa cả về thể chất lẫn tinh thần. Điều đó phải bắt đầu từ việc đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về mọi mặt: sức khỏe, tri thức, tay nghề, đạo đức. Đồng thời, đòi hỏi mỗi cá nhân người lao động DTTS phải luôn tự ý thức nâng cao trình độ, tự bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe... nhằm đáp ứng ngày càng cao yêu cầu phát triển của xã hội. Để đạt được mục tiếu đó, phát huy nguồn nhân lực DTTS phải luôn đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của chính quyền và sự tham gia của toàn dân./.

[1] Giảng viên Trường Đại học Kinh tế Nghệ An

[2] Chuyên viên Ban Tuyên giáo Trung ương

[3] Xem thêm Phạm Minh Hạc, "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Nxb. CTQG 1996, tr. 328; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2008 "chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2005-2008" tr. 14; Đoàn Văn Khái "Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Luận án Tiến sĩ Triết học - 2000, tr. 62.v.v.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội lần thứ VIII, Nxb CTQG. 1996     tr.21

[6] Xem Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 17-10-2007

[7] Xem  Nông thôn ngày nay, số ra ngày 22.9.2007;  và Lao động, số ra ngày 18-9-2007.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.223

 


Bài viết khác