Phát triển nguồn lực con người và các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển nguồn lực con người..

Trong các nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực - hay còn gọi la nguồn lực con người giữ vị trí trung tâm và có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội....

      Phát triển nguồn lực con người và các nhân tố cơ bản tác động đến phát triển nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

Th.S Nguyễn Thị Tùng

Khoa Lý luận chính trị

Trong các nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực - hay còn gọi là nguồn lực con người giữ vị trí trung tâm và có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, vì nó được coi là nguồn gốc, nơi phát sinh ra mọi nguồn lực khác. Do đó, vấn đề đặt ra cho chúng ta là trong giai đoạn hiện nay làm thế nào để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Nếu hiểu phát triển là khuynh hướng vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các sự vật, hiện tượng thì phát triển nguồn lực con người là quá trình làm gia tăng số lượng và chất lượng nguồn lực con người; là tạo điều kiện, cơ hội để nâng cao vai trò của nguồn lực con người qua đó làm tăng những giá trị đích thực và ý nghĩa lớn lao của nguồn lực này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Nói đến phát triển nguồn lực con người, trước hết phải nói đến sự phát triển số lượng và chất lượng nguồn lực con người. Trong đó phát triển chất lượng nguồn lực con người (năng lực thể chất và tinh thần; trình độ; tri thức và năng lực thực tiễn; kỹ năng nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tác phong  làm việc và phẩm chất đạo đức . v.v) có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển nguồn lực con người.

Tuy nhiên không nên hiểu phát triển nguồn lực con người là quá trình làm gia tăng số lượng và chất lượng nguồn lực con người một cách giản đơn, máy móc, mà sự gia tăng ấy bao hàm trong nó cả việc giải quyết các mâu thuẫn nẩy sinh giữa sự gia tăng số lượng và chất lượng nguồn lực con người cũng như mâu thuẫn nẩy sinh ngay trong từng thành tố cấu thành của nó. Bởi lẽ trong nhiều trường hợp mâu thuẫn giữa số lượng nguồn lực con người lớn nhưng chất lượng thấp lại trở thành lực cản đối với sự phát triển, sự tiến bộ xã hội. Ở đây thiết nghĩ chúng ta cần phải trở lại quan điểm của V.Lênin về sự phát triển, khi ông viết: “Hai quan điểm cơ bản  về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập

…Quan điểm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan. Quan điểm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan điểm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “ chuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nẩy sinh ra cái mới" (1)

 Một trong những quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển nhân lực thời kỳ 2011- 2020, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 19 – 4 – 2011 là “ phát triển nhân lực toàn diện, gồm những yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trị, xã hội theo yêu cầu phát triển toàn diện con người và phát triển con người bền vững”.

So với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam có nguồn nhân lực tương đối dồi dào, số người trong độ trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm tỷ lệ cao (67%) trong dân số cả nước. Cơ cấu dân số vàng xuất hiện ở nước ta từ năm 2010 và kết thúc khoãng 2040, đây là khoảng thời gian tương đối dài để chúng ta phát huy lợi thế về nguồn lực lao động nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Tuy có thế mạnh về số lượng, nhưng Việt Nam đang vấp phải lực cản lớn về chất lượng nguồn nhân lực. Trong tổng số  90 triệu người thì số người sống ở nông thôn chiếm khoảng 73%. Trong đó gần 22 triệu người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn trên phạm vi cả nước, có đến hơn 20 triệu người (tức chiếm 98%) chưa qua đào tạo và không có chứng chỉ chuyên môn. Người có bằng sơ cấp, công nhân kỹ thuật chỉ chiếm 1,26%, trung cấp 0,87%, đại học – cao đẳng là 0,22%. Nhưng chỉ số này cho thấy chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta còn rất thấp. Cho dù tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2010 đạt 40% tổng lao động đang làm việc, nhưng chủ yếu là ngoài nông nghiệp.(2)

Không chỉ đối với giai cấp nông dân, ngay cả giai cấp công nhân nước ta sau gần 30 năm đổi mới số lượng công nhân không ngừng tăng lên, chiếm khoảng 13,5% dân số cả nước và 26,4% lực lượng lao động xã hội, nhưng nhìn chung giai cấp công nhân Việt Nam vẫn “chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn hạn chế; đa phần công nhân từ nông thôn chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống" (3).

Theo số liệu của Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và cung ứng nguôn nhân lực – Bộ giáo dục và Đào tạo, công nhân có trình độ cao đẳng – Đại học ở nước ta chiếm khoảng 3,3% đội ngũ công nhân nói chung.(4)

Về đội ngũ trí thức. Đảng ta quan niệm “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”. (5)

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập thế giới hiện nay, khi mà kinh tế tri thức đóng vai trò quan trọng đối với tiến bộ xã hội, khi mà lợi thế cạnh tranh thuộc về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao thì vai trò của tri thức và đội ngũ trí thức càng trở nên quan trọng.Tại hội nghị Trung ương lần thứ bảy , khóa X, Đảng ta xác định :“Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nề văn hóa Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc”.(6)

 Các nhân tố cơ bản tác động đến phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Con người là một thực thể sinh vật – xã hội. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng làm biến đổi chính bản thân mình và trong tính hiện thực của nó – như C.Mác nói - bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội. Tất cả đó cho thấy sự tồn tại và phát triển của con người nói chung, của nguồn lực con người nói riêng chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan; cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội.

Trong những nhân tố khách quan, trước hết phải nói đến điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý- lịch sử. Đây được coi là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển con người nói chung, nguồn lực con người nói riêng – nhất là về mặt tâm lý, tính cách.

Việt Nam với vị trí địa l‎ý và đặc điểm địa hình, khí hậu tài nguyên sinh thái vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên phong phú, đa dạng chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đối với con người và phát triển nguồn lực con người.

Trong điều kiện đó, cư dân Việt Nam biết cách sống hòa đồng với thiên nhiên; tạo nên sự gắn bó cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, sẻ chia và tình yêu quê hương, bản quán cứ thế mà hình thành, phát triển và càng ngày càng trở nên sâu đậm. Đây là một trong những cơ sở để hình thành tình yêu đất nước và tình yêu này mỗi khi được nâng lên trở thành một triết lý sống, triết lý nhân sinh thì đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Yêu nước là nhân tố cơ bản của bản lĩnh dân tộc, là động lực nội sinh tạo nên sự quyết tâm, ‎‎ý chí, nghị lực và trí tuệ để xây dựng đất nước, đưa đất nước vượt qua nghèo nàn, lạc hậu tiến kịp trào lưu văn minh của thời đại đảm bảo sự phát triển bền vững, ổn định, đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc trong giao lưu văn hoá và hội nhập vào cộng đồng khu vực cũng như thế giới.

Những nét đặc thù của thiên nhiên Việt Nam kết hợp với lịch sử hàng ngàn năm chống giặc ngọai xâm đã sớm rèn luyện cho con người Việt Nam những đức tính tốt đẹp: chịu thương, chịu khó, đoàn kết, anh dũng, kiên cường, sáng tạo… những đức tính tốt đẹp và đáng trân trọng ấy là cơ sở để hình thành nên những thuộc tính, những phẩm chất, những thành tố cơ bản trong cấu trúc chất lượng con người Việt Nam nói chung, nguồn lực con người Việt Nam nói riêng.

Cũng chính nhân tố tự nhiên – lịch sử này đã tạo nên tâm lý muốn có

“con đàn, cháu đống” để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong điều kiện một nước tiêu nông và để chống giặc ngoại xâm, do đó số lương cư dân nước ta không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng, tâm lý đó ít nhiều vẫn ảnh hưởng cho đến tận ngày nay.

Ngoài nhân tố tự nhiên- lịch sử, thì nhân tố thời đại, việc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế…cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển nguồn lực con người (nhất là chất lượng  nguồn lực con người) ở nước ta hiện nay.      

Trong thời đại ngày nay, sức mạnh của mỗi quốc gia dân tộc không chỉ được đo bằng sức mạnh nội lực mà còn được đo bằng khả năng và mức độ hội nhập quốc tế cuả chính quốc gia đó. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, sức mạnh nội lực của mỗi quốc gia đang trên con đường phát triển như Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ khi nó được kết hợp đúng đắn với các yếu tố ngoại lực. Một trong những bài học thành công của công cuộc đổi mới gần 30 năm qua chính là bài học biết “phát huy cao độ nội lực đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội lực xem đó là yếu tố quyết định đối với sự phát triển, đồng thời coi trọng huy động mọi nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức tổng hợp để phát triển  đất nước nhanh và bền vững trên cơ sở giữu vững độc lập dân tộc và định hướng XHCN. (7)

Ngoài một số nhân tố khách quan trên, sự phát triển nguồn lực con người Việt Nam còn chịu sự tác động của các nhân tố chủ quan như: vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước cũng như vai trò của chính bản thân nguồn lực con người Việt Nam. Trong đó sự tác động từ chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các chủ thể quản lý, các cấp, các ngành là hết sức to lớn. Tại Đại hội lần thứ VII, Đảng ta chỉ rõ “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội" (8)

Một số chính sách như: giáo dục đào tạo, đào tạo lại; chính sách tuyển dụng, sử dụng lao động; chính sách tiền lương, bảo hiểm, chăm sóc y tế…nếu đúng đắn, phù hợp - như Đảng ta đã từng khẳng định - “sẽ tác động trực tiếp đến việc hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh. Phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng để xứng đáng là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng giai cấp nông dân về mọi mặt để xứng đáng là một lực lượng cơ bản trong việc xây dựng nông thôn mới, góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa. Đào tạo, bồi dưỡng và phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước”(9). Ngược lại các chính sách kinh tế - xã hội không phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng kìm hãm sự phát triển, hạn chế năng lực và tư duy sáng tạo của con người – nghĩa là kìm hãm sự phát triển chất lượng nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội.

Chúng ta có thể khẳng định rằng, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thành công hay không, đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào nguồn lực con người Việt Nam.Quan điểm đó đòi hỏi chúng ta phải hiểu một cách sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, nguồn lực con người – chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần, mọi nền văn minh của các quốc gia- dân tộc. Nắm vững, thấu hiểu tinh thần nhân văn sâu sắc ấy sẽ giúp cho chúng ta có niềm tin khoa học để bước vào “ thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”./.

CHÚ THÍCH - TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, tập 29, tr.270-271

2. GS, TS Chu Văn Cấp “ Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kih tế - xã hội nhanh và bền vững” Tạp chí khoa học chính trị , số 2- 2012, tr.28

3. Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện đại hội lần thứ VI, khóa X, Nxb. CTQG, 2008, tr.45

4. tsc.edu.vn/a rticledetai

5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị trung ương bảy, khóa X , Nxb. CTQG, 2008, tr.82

6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị trung bảy, khóa X .Nxb. CTQG, 2008, tr.90

7. Đảng Cộng sản Việt Nam,  Văn kiện Đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nộ, 2006, tr.71

8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NxbSự thật 1991, tr. 13,15

9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NxbSự thật 1991, tr. 15

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Bài viết khác