Viêm giảm bạch cầu ở mèo – Một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm

TS. Võ Thị Hải Lê – Trưởng Bộ môn Thú y – Khoa NL ngư – ĐH KT Nghệ An

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Bài viết này cung cấp một số thông tin về Bệnh Giảm bạch cầu ở mèo hay còn gọi là bệnh Viêm ruột truyền nhiễm ở Mèo (Feline infectious Enteritis - FPV). Bệnh do một loại virus gây ra với các đặc điểm là bệnh xuất hiện đột ngột, con vật nôn mửa, tiêu chảy và số lượng bạch cầu giảm rõ rệt. Bệnh lây lan nhanh, tỷ lệ tử vong rất cao, từ 50 – 90%. Đây là một bệnh cấp tính, nguy hiểm cho loài mèo. Hiện nay, Ở Việt Nam nói chung,  việc nuôi chó, mèo nói chung và nuôi mèo cảnh nói riêng đang co xu hướng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Mèo cũng là một thú cưng được lựa chọn nhiều do đó có xuất hiện các giống mèo nhập ngoại du nhập vào nước ta, việc buôn bán mèo ngày càng phổ biến nhưng việc kiểm soát bệnh vẫn còn nhiều bất cập. Việc thiếu kiến thức về các mầm bệnh cũng như việc buôn bán tràn lan dẫn đến việc nguy cơ lây nhiễm các bệnh nguy hiểm đến sức khoẻ và tính mạng của thú cưng. Mèo trưởng thành chưa được tiêm phòng vaccine cũng dễ mắc bệnh này và việc tiêm vaccine tăng cường hiệu lực có thể gặp nhiều rủi ro [19]. Hiện nay đã có vaccine phòng bệnh FPV trên mèo nhưng số lượng mèo nhiễm bệnh vẫn rất nhiều và có diễn biến phức tạp trong thực tế.

2. MẦM BỆNH

          Bệnh do một loại vi rút Feline panleukopenia (FPV),  thuộc họ Parvoviridae gây ra, có kích thước nhỏ, vật chất di truyền là ADN. FPV có thể gây bệnh cho tất cả các thành viên của họ Felidae, có rất nhiều báo cáo về nhiễm trùng hoặc phơi nhiễm vi rút ở mèo hoang (Duarte & cs., 2009). Vi rút có sức đề kháng cao, tồn tại lâu ở môi trường tự nhiên, trong phân từ 5 đến 10 tháng hoặc hơn (Fischer & cs, 2007).

3. DỊCH TỄ HỌC

3.1. Loài mắc bệnh

Toàn bộ họ nhà mèo đều mắc bệnh. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên mẫn cảm nhất là mèo từ 3 tháng – 1 năm tuổi mắc bệnh nặng. Ở mèo lớn, thường mắc ở thể nhẹ.

3.2. Đường xâm nhập và cách lây lan

Mầm bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hóa, qua thức ăn, nước uống. Sau khi vào cơ thể, vi rút tấn công vào các hạch lympho như hạch amida, hạch ruột, sau đó vào máu và tấn công tuyến ức, tủy xương, lách và các nang lympho ở nếp gấp ruột, là cơ quan có thẩm quyền miễn dịch. Vi rút phá hủy các mô ở tổ chức lympho, làm số lượng bạch cầu giảm rõ rệt, dẫn đến giảm sức đề kháng ở mèo, gây viêm ruột và tiêu chảy cấp.

4. TRIỆU CHỨNG – BỆNH TÍCH

Các triệu chứng chủ yếu quan sát được là hiện tượng mèo ủ rũ, mệt mỏi, bỏ ăn do sốt cao hơn 39oC,  Tiêu chảy kéo dài, phân lẫn máu có mùi tanh và mất nước. Mèo bị nôn, bọt trắng hoặc vàng xanh. Hơi thở có mùi khó chịu. Ngoài ra, một số mèo có các triệu chứng khác như chảy nước dãi, mắt nhiều ghèn, viêm niêm mạc mắt, niêm mạc nhợt nhạt. Đặc biệt, ở giai đoạn cuối, do tiêu chảy và nôn mửa nhiều, mèo bị hạ thân nhiệt và chết đột ngột do các biến chứng liên quan đến nhiễm khuẩn thứ phát, mất nước và rối loạn điện giải nghiêm trọng.

Hình 1. Bệnh giảm bạch cầu ở mèo
(viêm giác mạc mắt, chảy nước mắt, tiêu chảy, nôn mửa)

Triệu chứng viêm cơ tim: Mèo khó thở, la rên rỉ, nôn khan. Biểu hiện của thể này là xuất hiện một cách rất nhanh và đột ngột. Virus tấn công gây viêm cơ tim làm rối loạn nhịp tim, suy tim làm mèo con chết nhanh. Thể bệnh này thường gặp trên mèo từ 6 tuần đến 6 tháng tuổi. Bệnh tích đại thể: Lách có dạng không đồng nhất. Hạch màng treo ruột triển dưỡng, thuỳ thủng, xuất huyết. Gan có thể sưng, túi mật căng.

 Phổi bị thuỷ thủng trong thể viêm cơ tim. Niêm mạc ruột nở rộng và xung huyết, xuất huyết. Tá tràng bị hư hại nặng nề nhất, có thể chứa đầy máu và mảnh vỡ của niêm mạc ruột. Niêm mạc dạ dày xung huyết toàn bộ.

Kết quả phân tích các chỉ tiêu huyết học của mèo mắc bệnh FPV cho thấy: số lượng bạch cầu trung bình giảm còn 1,8x103/µl so với 4,6 – 12,8x103/µl ở mèo bình thường. Các bạch cầu lympho cũng giảm, còn khoảng 0,84x103/µl. Số lượng hồng cầu giảm nhẹ so với ở mèo bình thường.

5. CHẨN ĐOÁN

5.1. Chẩn đoán lâm sàng

          Dựa vào các triệu chứng lâm sàng điền hình như mèo bị sốt cao, tiêu chảy, nôn mửa,  phân có mùi tanh khắm, khó chịu. Bệnh diễn biến đột ngột, tỷ lệ chết cao, nhất là ở mèo 3 - 4 tháng tuổi.

5.2. Chẩn đoán huyết thanh học:

 Lấy máu 2 lần kế tiếp nhau để phát hiện sự biến đổi của huyết thanh. Lần 1 lúc bắt đầu bệnh, lần 2 khoảng 3 ngày sau đó. Có thể sử dụng xét nghiệm ELISA-base rất nhạy bén để phát hiện nhiễm FPV chẩn đoán kháng thể thường xuất hiện khi có những triệu chứng về tiêu hoá.

Hiện nay, bệnh được chẩn đoán bằng các bộ kít Test nhanh FPV-Ag có hiệu quả cao trong chẩn đoán điều trị.

Phân lập virus – Phát hiện gen: Virus có thể được phân lập từ nước tiểu và phân của mèo con, sử dụng PCR để nhận biết FPV trong máu, phân, ruột và mẫu mô tuy nhiên 2 phương pháp này tốn rất nhiều thời gian và tốn kém.

Hình 2. Chẩn đoán bằng kít Test nhanh FPV-Ag

6. PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ

6.1. Phòng bệnh

phải tiêm vaccine định kỳ để tránh các bệnh nguy hiểm đến tính mạng. Tiêm vaccine là một trong những bước chăm sóc y tế quan trọng. Số lượng thú cưng tiêm vaccine giảm sẽ tạo điều kiện cho bệnh bùng phát trở lại. Điều đó có nghĩa số lượng thú cưng được tiêm phòng càng nhiều thì tần suất mắc bệnh trong quần thể càng giảm.

6.2. Điều trị bệnh

Hiện nay bệnh chưa có thuốc đặc trị. Sự thành công trong điều trị phụ thuộc vào sự phát hiện và can thiệp kịp thời sớm cũng như sức đề kháng của con vật. Việc điều trị nhằm tăng sức chống chọi của con vật đối với bệnh, hỗ trợ điều trị triệu chứng và chống kế phát.

Chống mất nước và cung cấp điện giải, năng lượng thông qua truyền dịch: Lactate, Ringer, Glucose 5%.

Chống nôn, tiêu chảy bằng Atropin Sulphate liều 1ml/10kgTT.

Cung cấp Vitamin K nhằm cầm máu 2,5mg/1kgTT.

Bảo vệ niêm mạc dạ dày, ruột bằng Phosphalugel 1 gói/20kgTT uống 2-3 lần/ngày. Bổ sung điện giải Aminovet.

Bổ sung thuốc bổ Castosal hoặc Lesthionin C nhằm tăng sức đề kháng, trợ lực. Dùng kháng sinh chống phụ nhiễm, nên dùng kháng sinh phổ rộng, không sử dụng kháng sinh dạng uống trong trường hợp viêm dạ dày, ruột cấp tính và xáo trộn hấp thu đường ruột.

Kháng sinh sử dụng Ampicilline 5-10mg/kg, Gentamicin 4mg/kg.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Biện (2001), Bệnh chó mèo, NXB trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh,

2.Nguyễn Tài Lương, 1982, Sinh lý gia súc, NXB Nông thôn, Hà Nội.

3. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch (1997), Chuẩn đoán lâm sàng thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

4. Nguyễn Thị Ngọc, Bùi Trần Anh Đào, Lê Văn Phan, Nguyễn Thị Giang, Bùi Quang Huy, Phạm Quang Hưng, Đinh Phương Nam, Lê Văn Hùng (2020), Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm Feline Panleukopenia Virus(FPV) ở mèo tại Hà Nội và vùng phụ cận bằng phương pháp PCR, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19 trang 76-84

5. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, Giáo trình Sinh lý học vật nuôi, ĐHNL. Thái Nguyên, NXB NÔNG NGHIỆP, Hà Nội, (2006).

Tài liệu tiếng Anh

6.Cave T.A., Thompson H., Reid S.W.J., Hodgson D.R & Addie D.D (2002). Kitten mortality in the United Kingdom: A retrospective analysis of 274 histopathological examinations (1986 to 2000). Vet. Rec. Vol: 151, page: 497-501.

7.Duarte M.D, Barros S.C, Henriques M., Fernandes T.L., Bernardino R., Monterio M.& Fevereiro M. (2009). Fatal infection with feline panleukopenia virus in two captive wild carnivores (Panthera tigris and Panthera leo). Journal of Zoo and Wildlife Medicine. Vol 40, page 354-359.

8.Fischer Sarah M, Cassie M, Quest, Edward J.Dubovi, Rolan D.Davis, Sylvia J.Tucker, John A.Friary, P.Cynda Crawford, Teri A. Ricke & Julie K. Levy (2007). Response of feral cats to vaccination at the time of netering. Journal of the American Veterinary Medical Association. Vol 1, page: 52-58.

9.Gaskell Rm, Ternant B, Bennett M & Willoughby K. (1996). Feline and Canine Infection Diseases. Published by lowa State Press. Ames, IA.

10.Goddard A&Leisewitz L (2010). Canine Parvovirus, Vet Clin North Am Small AnimPract, Vol 40, page: 1041-1053.

11.Greene C.E & Addie D.D (2006). Feline parvovirus infections. In: Greene C.E. editor. Infectious Disease of the Dog and Cat. Saunders Elsevier, St.Louis. Page :78-88.

12.Millan J., Candela M.G., Palomares., Cubero M.J., Rodriguez A, Baral M., dela Fuente J., Almeria S & Leon-Vizcaino L. (2009). Disease threats to the endangered Iberian lynx (Lynx pardinus). The Veterinary Journal. Vol: 182, page:144-124.

13.Riley S.P, Foley J. & Chomel B. (2004). Exposure to feline and cannie pathogens in bobcats anh gray foxes in urban and rural zones of a national park in Califonia, Journal of wildlife diseases. Vol 40, page :11-12.

14.Wasieri J., Schmiedeknecht G., Forster C, Konig M& Reinacher M. (2009). Parvovirus infection in a Eurasian lynx (Lynx lynx) and in a European wildcat (Felis silvestris silvestris). Journal of comparative pathology. Vol: 140, page: 203-207.


Bài viết khác