Quan niệm về đạo và đức của Nho giáo và việc vận dụng trong nhà trường hiện nay

Trong học thuyết đức trị của Nho giáo, phạm trù đạo và đức giữ vai trò rất quan trọng. Mẫu người cai trị mà Nho giáo xây dựng nên là người quân tử. Người quân tử phải có đức và để có đức phải hành đạo. Vậy theo quan niệm của Nho giáo, đạo và đức là như thế nào và ngày nay, quan niệm đó liệu còn có giá trị để vận dụng trong giáo dục ở Việt Nam hay không? 

QUAN NIỆM VỀ ĐẠO VÀ ĐỨC CỦA NHO GIÁO VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG NHÀ TRƯỜNG HIỆN NAY

                                                             NGƯT.TS. Nguyễn Thị Lan

Trong học thuyết đức trị của Nho giáo, phạm trù đạo và đức giữ vai trò rất quan trọng. Mẫu người cai trị mà Nho giáo xây dựng nên là người quân tử. Người quân tử phải có đức và để có đức phải hành đạo. Vậy theo quan niệm của Nho giáo, đạo và đức là như thế nào và ngày nay, quan niệm đó liệu còn có giá trị để vận dụng trong giáo dục ở Việt Nam hay không?

 1. Quan niệm về đạo và đức của Nho giáo

Theo Khổng giáo, trời đất, muôn vật luôn vận động, biến đổi,sự vận động biến đổi đó không phải là hỗn loạn mà có đường đi lối lại, có phép tắc rõ ràng trong cả không gian và thời gian. Đường đi lối lại  có nề nếp, phép tắc đó chính là đạo. Vậy đao chính là hệ thống những nguyên lý, những phép tắc, những quy luật của sự vận động của trời đất. Theo nghĩa đen và nghĩa gốc của từ, đạo là con đường đúng đắn từ nơi đi cho đến nơi đến, ứng dụng vào sự vận động của trời đất, của muôn loài. Những cái đó vốn có trong tự nhiên, không do ai đặt ra. Trời đất sinh ra và vận động, muôn vật muôn loài ra đời, phát triển và diệt vong đều tuân theo đạo của nó. Khổng Tử nói “ Trời nói gì đâu, bốn mùa diễn ra, trăm vật cứ sinh ra. Trời nói gì đâu”.

 Con người không thể đặt ra đạo của trời đất nhưng con người có trí tuệ phải hiểu đạo của trời, đất và muôn loài. Không những thể, ông cho rằng con người phải biết lập đạo của mình để sống cho đúng đắn, phù hợp với đạo của trời, đất và của cuộc sống. Nếu không biết đạo thì không thể làm người, không thể sống xứng đáng với tư cách là người. Vì vậy, ông nói với học trò của mình: “ Buổi sáng nghe đạo thì buổi tối có chết cũng cam lòng”. Nếu con người không hiểu được đạo của mình thì làm sao có thể tồn tại được trong xã hội. Xã hội với muôn vàn mối quan hệ cần phải giải quyết. Nếu không hiểu đạo sẽ giải quyết sai và như vậy xã hội sẽ rối loạn, không phát triển được. Do đó, trời, đất, muôn loài vận hành theo đạo của nó, còn người phải vận hành theo đạo của người. Vậy theo Khổng Tử, tại sao con người phải lập đạo của mình?

Khổng Tử cho rằng con người có tính. Tính là do trời phú cho ( Thiên mệnh chi vị tính). Sự phú tính ấy về cơ bản là đồng đều. Tính người này và tính người kia do trời phú hầu như gần nhau cả. “Tính tương cận- Tính là gần nhau”. Nhưng trong cuộc sống mỗi người có hoàn cảnh, điều kiện sống khác nhau nên “ tập tương viễn- tập là xa nhau vậy”. Do hoàn cảnh sống tác động mà con người có thể lầm đường lạc lối trở nên vô đạo. Có tính trời mệnh cho mà cứ buông lơi thả lỏng thì không thể tránh được tình trạng biến chất theo muôn vàn cái tập, trở nên lầm đường lạc lối, tức là vô đạo. Một người vô đạo có thể dẫn tới cả xã hội vô đạo,cho nên Khổng Tử mong muốn để xã hội yên bình thì mọi người đều có đạo, xã hội có đạo. Muốn vậy  thì phải dạy bảo khuyên răn, tức là phải giáo. Cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều khuyên các nhà cai trị nên đặt công việc giáo hóa lên trên việc cai trị. Trong cuốn Trung Dung, Khổng Cấp ( cháu nội Khổng Tử ) đã nói “ Trời mệnh cho gọi là tính, kèm cặp dẫn dắt tính gọi là đạo, tu dưỡng gọi là giáo” ( Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo).

Đạo của con người không phải là cái gì xa xôi mà phải gần gũi với con người, phù hợp với tính tự nhiên của con người. Có như vậy con người mới có thể thực hiện theo đạo được. Theo Khổng Tử, “ Cái đạo thông thường của người ta trong thiên hạ có 5 bậc.  ( gọi là ngũ luân ). Đó là vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè. Giữa vua và tôi, phải có nghĩa. Giữa cha và con, phải có thân ái. Giữa vợ và chồng, phải có phân biệt, giữa anh và em, phải có thứ tự, giữa bằng hữu kết giao, phải có lòng tin” ( Tứ thư, tr. 70-71). Trong ngũ luân, Khổng Tử cho rằng có 3 mối quan hệ cơ bản nhất, là rường cột   của xã hội, gọi là tam cương. Đó là quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ. Nghĩa ở đây là phải cư xử cho thích hợp.

 Muốn thi hành ngũ luân thì phải có ba cái đức thông thường của người ta trong thiên hạ là trí, nhân, dũng. Khổng Tử nói rằng “ Kẻ ham học hỏi, nghiên cứu thì càng ngày càng thấy xa hiểu rộng, tức gần với đức trí. Kẻ ra sức làm lành, làm phải thì gần với đức nhân. Kẻ biết hổ ngươi, thống trị tâm ý  trước những cám dỗ thì gần với đức dũng. Ai biết ba việc ấy ( ham học, ra sức làm lành, biết hổ ngươi) ắt là biết phương pháp tu tập lấy mình. Biết phương pháp tu tập lấy mình ắt là biết phương pháp trị người. Biết phương pháp trị người ắt là biết phương pháp trị yên cả thiên hạ” ( Tứ thư, tr. 71).

Đạo do con người lập ra, do đó trong mỗi con người ít nhiều đều có đạo. Nhưng khả năng nhận thức của mỗi người trong xã hội khác nhau nên trong quá trình giáo, Khổng Tử đã nói cái đạo ngũ luân ấy, có người tự nhiên sinh ra mà biết, có người học tập rồi mà biết, hoặc có người khổ công nhọc sức lắm mới biết.. Trong ba hạng người nói trên, hạng người sinh ra đã biết đạo và làm theo đạo một cách tự nhiên là rất hiếm,hầu như chỉ có trong truyền thuyết. Chủ yếu trong thiên hạ thuộc hạng “ học mà biết”“ khó khăn khốn khổ mới biết”, mới trở nên hữu đạo. Do đó, mọi người trong thiên hạ đều phải giáo. Trong đạo Nho, cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều rất coi trọng giáo, đề cao vai trò của giáo. Khi gặp gỡ các nhà cầm quyền, các ông đều khuyên họ đặt công việc giáo hóa  lên trên công việc chính trị . Vì quan niệm đạo giáo gắn bó với nhau nên gọi là Nho giáo, hay còn gọi là đạo Nho. Hai khái niệm này về cơ bản là đồng nhất với nhau. Đạo phải nhờ có giáo mới sâu sắc, vững bền và được phổ biến rộng khắp. Giáo không có mục đích nào cao quý hơn là làm cho mọi người hữu đạo, mọi nhà hữu đạo, cả thiên hạ hữu đạo.

Vậy theo đạo Nho, thế nào là hữu đạo? Hữu đạo là thể hiện mối quan hệ giữa người với trời đất, muôn vật và những mối quan hệ giữa người với người và mối quan hệ giữa người với người một cách đúng đắn. Về quan hệ trời đất, các nhà sáng lập đạo Nho quan niệm con người biết mệnh trời, sợ mệnh trời, tuân theo mệnh trời, tỏ rõ lòng thành đối với trời đất, cảm thụ đức lớn của trời đất sinh ra muôn vật… Đó là con người  hữu đạo với trời đất.

Về quan hệ giữa người với người, các nhà Nho đã nhìn nhận được các mối quan hệ cơ bản nhất trong xã hội, từ đó đưa ra các quy tắc, chuẩn mực trong quan hệ của con người với con người và  khái quát thành ngũ luân ( vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em và bầu bạn). Trong quan hệ gia đình, sách Luận ngữ viết rất rõ,  “ Phụ phụ tử tử, huynh huynh đệ đệ, phu phu phụ phụ”, nghĩa là cha ra cha, con ra con,  anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ). ). Quan hệ bạn bè bằng hữu là đại diện cho các mối quan hệ khác ngoài xã hội . Đối với bạn bè nói riêng và đối với xã hội nói chung, điều quan trọng nhất là phải giữ chữ tín. Tăng Tử nói “ Mỗi ngày ta đều xét lại bản thân về ba việc: 1. Bàn tính hộ người có hết lòng chăng?. 2. Chơi với bạn bè đã thật thành tín chưa?. 3. Những điều thầy dạy có ôn luyện chăng”. ( Chu Hy, tr. 199)

Theo quan niệm của Nho giáo, hành đạo để có đức. Vậy đức được hiểu là gì? Khái niệm đức hiện nay không giống với khái niệm đức của  Nho giáo . Chúng ta thường nói người có đức là người có lòng nhân ái, độ lượng bao dung, có tinh thần trung thực, có nghĩa khí, có ý chí, hay giúp đỡ người khác. Chúng ta phân biệt rạch ròi giữa đức và tài. Chúng ta không quan niệm đức bao gồm cả tài và trí hoặc trí không phải là đức. Nhưng trong quan niệm của Nho giáo, ranh giới giữa đức và tài, trí không rạch ròi. Khi nói đến tứ đức của người phụ nữa thì bao hàm cả Công, Dung,Ngôn, Hạnh . Người quân tử phải có các đức là Nhân, Nghĩa , Lễ, Trí, Tín. Từ đức ngày xưa thường dùng để chỉ những phẩm chất tốt dẹp của con người trong tâm hồn ý thức cũng như trong hình thức, dáng điệu. Các học giả Trung Quốc ngày xưa quan niệm đức là cái hành đạo mà có được. Danh nho Vương Bật thời Đông hán đã giải thích “ Đạo là cái mà vật noi theo, đức là cáí vật có được, do noi theo”.

Nho giáo không chỉ nói đến đạo và đức mà còn nói đến tâm. Tâm và đức có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tâm tự nó không tạo ra đức nhưng có tâm thì dễ bắt gặp được đạo và hành đạo thì có đức. Tuy rằng không tạo ra đức nhưng tâm là đầu mối của đức. Nho giáo từng quan niệm lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân, , lòng hổ thẹn là đầu mối của nghĩa, , lòng từ nhượng là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí.

Tóm lại, ở đời, người nào cũng sinh tồn, hành động trong những quan hệ nhất định với trời đất, với muôn vật, với những người khác. Các quan hệ đó phù hợp với bản chất của con người và với đạo của trời đất. Đường đi lối lại đúng đắn để xây dựng quan hệ lành mạnh tốt đẹp tức là đạo. Noi theo một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn thì có được đức trong sáng, quý báu ở trong tâm. Ngoài ngũ luân, con người còn nhiều quan hệ khác trong xã hội. Dù là quan hệ nào, Nho giáo cũng dạy người ta tri đạo, hành đạo để có được bao nhiêu đức quý báu của con người, từ nhân- nghĩa - lễ - trí- dũng đến cung - khoan- tín - mẫn - huệ. Đạo sinh ra đức và đức có sự tác động lại đạo. Trong Trung dung đã nói rõ lấy đạo để tu thân, lấy đức nhân để tu đạo.

2. Vận dụng đạo và đức trong nhà trường hiện nay

Quan niệm của đạo và đức của Nho giáo đến nay nhiều điều vẫn có giá trị, nhất là trong giáo dục. Trong thế giới mỗi sự vật hiện tượng, mỗi con người đều có vai trò, vị trí khác nhau nên đạo và đức cũng có nội dung và hình thức khác nhau. Ngoài những chuẩn mực chung, mỗi tầng lớp, mỗi ngành đều có những chuẩn mực riêng. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, bên cạnh dạy chữ càng cần phải chú trọng dạy người. Nhà trường là nơi giáo dục, bồi dưỡng cho các thế hệ trẻ những đức tính tốt mà mỗi con người cần phải có. Nhà trường cần hướng cho các em con đường để rèn luyện những đức tính quý báu mà một con người cần phải có. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần phải  tiến hành đồng bộ một số vấn đề sau:

Đối với các thầy, cô giáo nói riêng và nhà trường nói chung:

 Cần thực hiện tốt những quy định về đạo đức nhà giáo. Quy định về đạo đức nhà giáo đã được ban hành từ năm 2008. Vấn đề là ở chỗ các nhà trường, các cơ quan quản lý giáo dục ở các cấp có thực hiện hay không? Trong thực tế đã thiếu sự kiểm tra việc thực hiện nên quy định đó đi vào cuộc sống còn rất khiêm tốn. Do đó, hàng năm, các cơ quan quản lý giáo dục, các trường phải có sự tổng kết, đánh giá về thực hiện quy định này, có khen thưởng và kỷ luật thích đáng. Phải khơi dậy lòng tự trọng nghề nghiệp trong mỗi nhà giáo để họ dám sống liêm chính, giữ được hình ảnh đẹp, trong sáng của người thầy trước học trò. Kịp thời khen thưởng những nhà giáo tiêu biểu trong nhà trường để khuyến khích, đông viên những người có tư cách đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có tình thương yêu đối với học trò, giảng dạy tốt để động viên khuyến khích, tạo nên phong trào thi đua trong nhà trường. Gần đây, Bộ Giáo dục Đào tạo đã có chủ trương bình chọn và tổ chức lễ vinh danh nhà giáo tiêu biểu trên toàn quốc và ở các địa phương. Đây là chủ trương đúng đắn nhằm khuyến khích những nhà giáo rèn luyện tốt, công tác tốt.

      Cần coi trọng vấn đề nêu gương. Cấp trên phải làm gương cho cấp dưới trong việc rèn luyện đạo đức. Nếu cấp trên nhận tiền để đề bạt, tuyển dụng, thuyên chuyển cán bộ và các vấn đề khác thì khó có thể phê bình giáo viên dạy thêm, học thêm, nhận tiền nâng điểm, bớt xén giờ giảng.v.v. Nếu cấp trên có thái độ trù dập cấp dưới vì dám đấu tranh chống tham nhũng thì cấp dưới sẽ không đấu tranh trực diện làm cho nội bộ mất đoàn kết, nghi ngờ lẫn nhau, nhiệm vụ chuyên môn không thể thực hiện tốt. Cấp trên không gương mẫu trong chấp hành kỷ luật lao động thì khó mà phê bình cấp dưới vi phạm kỷ luật. Trưởng khoa không làm nghiên cứu khoa học, không giảng dạy tốt thì khó mà thúc dục giảng viên trong khoa làm những việc đó cho tốt. Thầy giáo phải gương mẫu đối với trò. Thầy cư xử thiếu tình người, thiếu trách nhiệm đối với học sinh, sinh viên, đối với công việc thì khó có thể hướng cho các em một con đường rèn luyện đúng đắn để có những đức tính tốt. Thầy sống quá đề cao tiền bạc thì khó dạy trò sống theo đạo lý làm người. Thầy vào lớp chậm giờ thì khó mà phê bình trò đi học chậm. Khổng Tử đã nói: mình không chính thì chính người khác sao được. Vì thế, người thầy phải làm gương.

Hàng năm, tổ chức lấy ý kiến người học đối với giáo viên, giảng viên, cán bộ, nhân viên phục vụ; lấy ý kiến phụ huynh về giáo viên. Thông qua kênh thông tin này có thể phát hiện ra những trường hợp vi phạm chuẩn mực đạo đức, thiếu tinh thần trách nhiệm để kịp thời khắc phục, sữa chữa, nếu vi phạm nghiêm trọng có thể kỷ luật.

Phòng công tác học sinh- sinh viên cần chú trọng thực hiện nghiêm túc quy định đánh giá xếp loại rèn luyện của sinh viên. Kiên quyết hạ bậc những sinh viên chưa có ý thức rèn luyện  tư cách đạo đức. Không thể vì số lượng người học mà chấp nhận những sinh viên có ý thức rèn luyện và học tập yếu kém tồn tại trong nhà trường. Đoàn thanh niên và Hội sinh viên cần chú trọng triển khai các cuộc vận động về nội dung học tốt, rèn luyện tốt để khơi dậy trong sinh viên lối sống theo đạo lý cuả cha ông để lại. Đó là lối sống ham hiểu biết, tình nghĩa, thủy chung, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, khoan dung, độ lượng, hay nói theo tư tưởng của Khổng Tử là tu thân để có Nhân- Nghĩa - Lễ - Trí - Dũng - Cung - Khoan - Tín -  Mẫn - Huệ.

Đối với học sinh, sinh viên:

Các em cần xác định một con đường đúng đắn để rèn luyện bản thân trong nhà trường cũng như gia đình, xã hội. Tùy theo danh của mình mà làm tốt bổn phận. Là con thì phải vâng lời bố mẹ, học tập và rèn luyện tốt sau này có tương lai tốt đẹp, không phụ công bố mẹ nuôi dưỡng, giáo dục. Là anh phải gương mẫu, yêu thương , nhường nhịn em. Là trò phải siêng năng học tập, rèn luyện để nắm vững kiến thức sau này sẽ vững vàng bước vào đời, phải kính trọng thầy cô giáo. Là bạn phải sống chân thành, động viên nhau cùng học tốt, rèn luyện tốt, giúp đỡ, chia sẻ vui buồn cùng nhau. Là công dân, phải luôn chấp hành đúng pháp luật. Là học sinh, sinh viên phải chấp hành đúng nội quy, quy chế của nhà trường, của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Là đoàn viên cần sống có lý tưởng, tham gia tích cực các phong trào thi đua, các cuộc vận động do Đoàn trường tổ chức.v.v.

   Dù ra đời cách đây hơn hai ngàn năm, dù đã từng bị đánh cho tơi tả trên chính nơi nguồn gốc xuất phát của nó, nhưng Nho giáo vẫn tồn tại không chỉ ở  Trung Quốc mà cả  Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam. Mặc dù có nhiều điều không phù hợp nữa nhưng quan niệm về đạo và đức sẽ mãi mãi có giá trị . vì, đó là một học thuyết làm cho con người trở thành người nhất./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tứ thư, Đoàn Trung Còn dịch, Nxb Thuận hóa- Huế, 2000

2. Quang Đạm, Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hóa thông tin, 2001

3. Lý Tường Hải, Khổng Tử, Nxb Văn hóa thông tin, 2006

4. Khổng Tử, Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải, Nxb Văn hóa, 2000

5. Nguyễn Khắc Viện, Bàn về Nho giáo, Nxb Thế giới, 2000

 

 


Bài viết khác