Các phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực tự học tự nghiên cứu của sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An

           I. Đặt vấn đề

           Một trong những vấn đề có vai trò quan trọng về đổi mới phương pháp dạy và học ở trường đại học kinh tế Nghệ An là nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên. Đây là một nhiệm vụ được thể hiện trong từng bài giảng, từng học phần, từng bộ môn và cả trong khóa học của sinh viên. Vì vậy, việc nghiên cứu vận dụng một số phương pháp dạy học hiện đại vào giảng dạy của giảng viên trường đại học kinh tế để tăng cường năng lực tự học tự nghiên cứu cho sinh viên là rất cần thiết.

II. Nội dung

1. Phương pháp tự học có hướng dẫn theo module

Khi sử dụng phương pháp này, sinh viên được dẫn dắt từng bước thông qua các module để đạt được mục tiêu dạy học. Nội dung dạy học được chia nhỏ ra từng phần, nhờ hệ thống mục tiêu chuyên biệt và hệ thống test, sinh viên có thể tự học và tự kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng của bản thân trong từng tiểu module. Từ đó, sinh viên có thể tự học theo khả năng riêng của mình. Trong phương pháp tự học có hướng dẫn theo module thì giáo viên chỉ giúp đỡ khi học sinh cần thiết, chẳng hạn như: giải đáp các thắc mắc, sửa chữa những sai sót của học sinh, động viên họ học tập. Kết thúc mỗi module giáo viên đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Nếu đạt sinh viên chuyển sang module tiếp theo, nếu không đạt sinh viên thảo luận với giảng viên về những khó khăn của mình và sẽ học lại một phần nào đó của module với nhịp độ riêng.

Phương pháp tự học có hướng dẫn theo module đảm bảo tuân theo những nguyên tắc cơ bản của quá trình dạy học sau đây:Nguyên tắc cá thể hoá trong học tập;Nguyên tắc đảm bảo hình thành ở sinh viên kỹ năng tự học từ thấp đến cao;Nguyên tắc giảng viên thu thập thông tin về kết quả học tập của sinh viên sau quá trình tự học, giúp đỡ sinh viên khi cần thiết, điều chỉnh nhịp độ học tập.

Ưu điểm:Phương pháp này giúp sinh viên học tập ở lớp và ở nhà có hiệu quả vì module là tài liệu tự học sinh viên có thể mang theo mình để học tập bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào có điều kiện, tạo điều kiện cho sinh viên học tập với nhịp độ cá nhân, luyện tập việc tự đánh giá kết quả học tập, học tập theo cách giải quyết vấn đề, do đó nâng cao được chất lượng dạy học thực tế. Phương pháp tránh được sự tuỳ tiện của giảng viên trong quá trình dạy học vì nội dung và phương pháp dạy học đều đã được văn bản hoá, Giảng viên cập nhật được những thông tin mới về khoa học và công nghệ do đó có điều kiện thuận lợi trong việc bổ sung nội dung mới và tài liệu dạy học( nhờ các module phụ đạo).Cho phép sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy theo dõi kèm cặp một cách tối ưu tuỳ theo mức độ phức tạp của nhiệm vụ dạy học, đảm bảo tính thiết thực của nội dung dạy học, đảm bảo được tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vì người học tự chiếm lĩnh nó, đồng thời hình thành và rèn luyện được thói quen tự học để họ tự đào tạo suốt đời.

Nhược điểm:Việc thiết kế hệ thống module dạy học và biên soạn tài liệu dạy học theo module khá công phu và tốn kém cần khoảng 5 đến 7 giờ biên soạn module dạy học cho một giờ học. Phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định. Có thể nảy sinh tâm lý buồn chán do tính đơn điệu của việc tự học. Không thích hợp với việc huấn luyện những kỹ năng làm việc theo kịp công tác.

Các tình huống sử dụng:Với các ưu, nhược điểm nói trên có thể sử dụng phương pháp tự học có hướng dẫn theo module trong các trường hợp sau: Dạy học những nội dung quan trọng với nhiều đối tượng theo học (cần đặc biệt quan tâm tới môn chung, các môn cơ bản và cơ sở chuyên nghành). Dạy học những nội dung, kiến thức có liên quan nhiều đến nội dung đã được học ở lớp dưới, các kiến thức nâng cao cập nhật không nhiều và không quá khó. Dạy học những nội dung có tính biến động cao, thường xuyên phải đổi mới vì module có khả năng lắp ghép và tháo gỡ nên có nhiều thuận lợi trong việc thay đổi nội dung, chương trình dạy học. Khắc phục những nhược điểm của hệ thống dạy học cũ như: đồng loạt, không phân hoá, không tiến triển theo nhịp độ cá nhân.

2. Phương pháp dạy học tích hợp

Theo Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam: “Dạy tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các nội dung, hoạt động dạy kiến thức - kỹ năng - thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung và hoạt động dạy học để hình thành và phát triển năng lực thực hiện hoạt động nghề nghiệp cho người học”.

Dạy học tích hợp trong đào tạo đại học theo hướng ứng dụng/thực hành là dạy học định hướng vào mục tiêu hình thành năng lực thực hiện cho người học, đảm bảo sự vận dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết trong các hoạt động để giải quyết các nhiệm vụ học tập mang tính dự án.  

http://www.vtr.org.vn/FileManager/anh_web_2020/thang2/1120/pp%20day%20tich%20hop%20bac%20dai%20hoc.jpg

Mặt khác, sự hình thành năng lực thực hiện căn bản phải dựa trên các hoạt động học tập của người học để giải quyết nhiệm vụ học tập nên quá trình dạy học được thực hiện theo quan điểm dạy học định hướng năng lực, lấy người học làm trung tâm, trong đó vận dụng các phương pháp dạy học phức hợp là chủ yếu. 

Thiết kế bài giảng theo quan điểm dạy tích hợp

- Thứ nhất: Lập kế hoạch dạy học các môn học chung và các mô-đun năng lực thực hiện đảm bảo mối liên hệ giữa chúng theo sơ đồ được mô tả trong chương trình đào tạo.

- Thứ hai: Tiến hành nghiên cứu sơ đồ phân tích để thấy được những kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất người học cần có để phối hợp giải quyết nhiệm vụ học tập, xác định chuẩn năng lực tương ứng với công việc, yêu cầu ở mỗi bước công việc để xây dựng các phương án và phương tiện kiểm tra đánh giá.

- Thứ ba: Đa dạng hóa các kênh thông tin đặc biệt là sử dụng đa phương tiện trong truyền thông dạy học.

Áp dụng các phương pháp dạy học định hướng vào tính tích cực của sinh viên như: dạy học nêu và giải quyết vấn đề, dạy học bằng tình huống điển hình, dạy học bằng dự án và học tập theo nhóm...Cấu trúc bài giảng cần có sự linh hoạt và hài hòa, xen kẽ với các tình huống nhận thức mới là các tình huống củng cố, vận dụng để nâng cao sự chú ý tích cực và hình thành năng lực thực hiện cho sinh viên.

Nhiều nghiên cứu và thực tế giáo dục trên thế giới đã chỉ ra rằng, có rất nhiều phương thức dạy học khác nhau để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra trong đó dạy học tích hợp là phương thức dạy học duy nhất có thể đạt được mục tiêu giáo dục là phát triển năng lực cho người học nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc giúp người học hòa nhập vào cuộc sống lao động. Như vậy, để dạy học tích hợp thành công chúng ta phải vận dụng quan điểm tích hợp từ khâu xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến khâu tổ chức dạy học (nhất là lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học) đưa sinh viên vào trong những tình huống thực để các em tìm tòi và tự phát hiện, giải quyết vấn đề qua đó phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho các em.

3. Phương pháp dạy học dự án

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó sinh viên dưới sự điều khiển và giúp đỡ của giảng viên tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được.

Các bước tổ chức dạy học dự án

Bước

Hoạt động của giảng viên

Hoạt động của sinh viên

1. Chuẩn bị

- Xây dựng ý tưởng,

- Lựa chọn chủ đề, tiểu chủ đề

- Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập

- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng: xuất phát từ nội dung học và mục tiêu cần đạt được.

- Thiết kế dự án: xác định lĩnh vực thực tiễn ứng dụng nội dung học, ai cần, ý tưởng và tên dự án.

- Thiết kế các nhiệm vụ cho sinh viên: làm thế nào để sinh viên thực hiện xong thì bộ câu hỏi được giải quyết và các mục tiêu đồng thời cũng đạt được.

Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ giảng viên và sinh viên cũng như các điều kiện thực hiện dự án trong thực tế.

- Làm việc nhóm để lựa chọn chủ đề dự án.

- Xây dựng kế hoạch dự án: xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công v iệc trong nhóm.

- Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án.

Cùng giảng viên thống nhất các tiêu chí đánh giá dự án.

2. Thực hiện dự án

- Thu thập thông tin

- Thực hiện điều tra

- Thảo luận với các thành viên khác

- Tham vấn giáo viên hướng dẫn

- Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá sinh viên trong quá trình thực hiện dự án

- Liên hệ các cơ sở, khách mời cần thiết cho sinh viên.

- Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự án.

- Bước đầu thông qua sản phẩm cuối của các nhóm sinh viên.

- Phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự án theo đúng kế hoạch.

- Tiến hành thu thập, xử lý thông tin thu được.

- Xây dựng sản phẩm hoặc bản báo cáo.

- Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi cần.

- Thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho giảng viên và các nhóm khác.

3. Kết thúc dự án

- Tổng hợp các kết quả

- Xây dựng sản phẩm

- Trình bày kết quả

- Phản ánh lại quá trình học tập

- Chuẩn bị cơ sở vật chất cho buổi báo cáo dự án.

- Theo dõi, đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm.

- Chuẩn bị tiến hành giới thiệu sản phẩm.

- Tiến hành giới thiệu sản phẩm.

- Tự đánh giá sản phẩm dự án của nhóm.

- Đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra.

 

Ưu điểm: Kích thích động cơ, hứng thú học tập, phát huy tính tự lực, chủ động, sáng tạo của sinh viên. Phát triển cho sinh viên các năng lực tự học giải quyết những vấn đề phức hợp, cộng tác làm việc, đánh giá. Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, tính bền bỉ, sự kiên nhẫn cho sinh viên

Hạn chế: Đòi hỏi nhiều thời gian, không thích hợp trong việc giảng dạy những tri thức lí thuyết có tính hệ thống. Dạy học dự án không khuyến khích thực hiện những phần kiến thức trọng tâm của bài học. Giảng viên có thể chọn một số nội dung có nhiều ý nghĩa trong thực tiễn để dạy học theo mô hình này. Đòi hỏi phải có phương tiện dạy học và nguồn tài chính phù hợp. Dự án cần sự tích hợp công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin nên sinh viên phải có những kiến thức nhất định về tin học. Giảng viên cần giỏi về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững vàng.

4. Phương pháp dạy học hợp tác

Trong dạy học hợp tác, giảng viên tổ chức chia lớp thành các nhóm nhỏ để cùng thực hiện một nhiệm vụ với một khoảng thời gian nhất định. Ở mỗi nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, các thành viên kết hợp giữa làm việc cá nhân và làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác cùng nhau giải quyết vấn đề

Các bước thực hiện dạy học hợp tác:

Bước 1: Làm việc chung cả lớp

Giảng viên giới thiệu chủ đề thảo luận nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí làm việc cho các nhóm.

Bước 2: Làm việc theo nhóm

Các nhóm lập kế hoạch làm việc, thỏa thuận quy tắc làm việc. Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập. Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm. Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.

Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp

Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến.Giảng viên tổng kết và nhận xét, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo.

Ưu điểm: Sinh viên được học cách cộng tác trên nhiều phương diện. Sinh viên được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua cách học đó, kiến thức của hs sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của hs được rèn luyện và phát triển.Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau. Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra. Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của sinh viên thêm phong phú; kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác của sinh viên được phát triển.  Sinh viên hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp.

Hạn chế: Dạy học hợp tác đòi hỏi thời gian cho sinh viên thảo luận để đưa ra ý kiến chung của cả nhóm. Nếu giảng viên thiếu khả năng tổ chức, quản lý, sinh viên chưa tự giác, tích cực học tập, chưa có kỹ năng hợp tác, chưa được tạo điều kiện về không gian, thời gian và nhiệm vụ không rõ rang… thì quá trình dạy học hợp tác sẽ tốn thời gian và đạt hiệu quả thấp.

5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp tổ chức các hoạt động trải nghiệm.

Là một phương pháp dạy học, trong đó, người học tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra, hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm. Mục đích hàng đầu của các phương pháp nghiên cứu trường hợp không phải là việc truyền thụ tri thức lí thuyết mà là vận dụng tri thức vào giải quyết vấn đề trong những tình huống cụ thể, mang tính phức hợp. Người học được đặt trước những tình huống cần quyết định, họ phải xây các phương án giải quyết vấn đề cũng như đánh giá các phương án đó, để quyết định chọn một phương án giải quyết.

Các dạng nghiên cứu trường hợp: Có nhiều dạng trường hợp khác nhau được xây dựng, chúng khác nhau ở quy mô và tính chất được mô tả cũng như trọng tâm của nhiệm vụ khi nghiên cứu. Có trường hợp trọng tâm là việc phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, hay đánh giá, phê phán cách giải quyết vấn đề trong thực tiễn.

Quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm trong dạy học

Thứ nhất: Xác định chủ đề và đặt tên cho hoạt động trải nghiệm  là một việc làm cần thiết vì bản thân tên hoạt động đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, kích thích tâm lí hứng khởi và tích cực của sinh viên. Vì vậy, cần phải tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. Việc đặt tên cho hoạt động cần rõ ràng, chính xác, ngắn gọn; phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động; tạo được ấn tượng ban đầu cho sinh viên.

Ví dụ như: Khám phá tài nguyên du lịch cộng đồng các huyện miền tây Nghệ An; Nghiên cứu giải pháp phục hồi và bảo vệ tài nguyên du lịch cộng đồng địa phương; Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch  cộng  đồng  của một điểm, khu du lịch,(địa phương).

Thứ hai: Xác định mục tiêu của hoạt động trải nghiệm: Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả  của hoạt động. Các mục tiêu cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp, phản ánh được các mức độ cao, thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị.

Thứ 3: Xác định nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức của hoạt động trải nghiệm: Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, nhà trường và khả năng của sinh viên để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó, lựa chọn những hình thức hoạt động tương ứng  như: tham quan thực tế; khảo sát địa phương; nghiên cứu trường hợp; tổ chức cho sinh viên hoạt động trải nghiệm với phương pháp dạy học theo dự án.

Thứ 4: Lập kế hoạch (thiết kế hoạt động trải nghiệm): Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài liệu) và thời gian, không gian…cần thiết cho việc hoàn thành mục tiêu. Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định; hơn nữa, phải tìm ra phương án có chi phí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu. Ngoài ra, tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giảng viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu.

Thứ 5: Triển khai thực hiện hoạt động trải nghiệm: Trong bước này cần lưu ý: Hoạt động trải nghiệm theo lớp,  theo nhóm hay cá nhân.  Dù là hoạt động nhóm hay hoạt động cá nhân đều đòi hỏi các nhóm, cá nhân phải có kế hoạch thực hiện và giảng viên kiểm tra trước khi triển khai; Tiến trình và thời gian thực hiện kế hoạch đó như thế nào; Các công việc cụ thể cho các tổ,  nhóm, các cá nhân; Giảng viên sẵn sàng hỗ trợ khi sinh viên cần trong quá trình thực hiện.

Thứ  6: Kiểm tra, đánh giá hoạt động trải nghiệm: Sinh viên báo cáo kết quả và sản phẩm mà hoạt động trải nghiệm thu được; Sinh viên tự đánh giá kết quả  hoạt động trải nghiệm và các nhóm góp ý, đánh giá; Giảng viên phân tích kết quả, sản phẩm và đánh giá.

III. Kết luận

Ở trường Đại học kinh tế Nghê An, vấn đề trang bị phương pháp tự học đối với sinh viên là rất quan trọng, là cốt lõi của quá trình dạy học. Giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên cách tiếp cận, khai thác và xử lý thông tin. Khi sinh viên có được các phương pháp, kỹ năng, ý chí tự học sẽ khơi dậy hứng thú và năng lực vốn có của các em. Từ đó, sinh viên sẽ nâng cao dần kết quả học tập, dễ dàng thích ứng với thời đại công nghệ 4.0, công nghệ số, bùng nổ thông tin phát triển như hiện nay.

ThS. Lê Thị Mỹ Tâm

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Lăng Bình, Dạy học tích cực. Một số phương pháp dạy và kỹ thuật dạy học tích cực, NXB Đại học sư phạm, H.2010.

2. Hà Thị Lan Hương, Xu hướng tích hợp trong xây dựng chương trình các môn khoa học tự nhiên của các nước trên thế giới và khả năng áp dụng vào thực tiễn giáo dục Việt Nam. Tạp chí Giáo dục và xã hội. Số 29 (90), tháng 8 năm 2013, tr.44-47.

3. http://www.vtr.org.vn/ap-dung-phuong-phap-giang-day-tich-hop-o-bac-dai-hoc.html

4.https://giaoducthoidai.vn/trao-doi/nhung-phuong-phap-day-hoc-tich-cuc-bac-dh-1227797.html

 

 


Bài viết khác